Hy Vọng Cho Người Tìm Chân Lý – Giăng 8:21-36
Một câu chuyện kể về Satan và các thuộc hạ của nó họp lại để bàn phương cách tấn công sự thật của lời Chúa, về sự chương trình cứu rỗi của ĐCJC. Một thuộc hạ tâu: “Thưa chúa, tôi có dự tính này. Khi tôi đến để dụ dỗ loài người và làm chủ đời họ tôi sẽ nói với họ rằng thiên đàng chỉ là chuyện hão huyền, không có thật”. Satan trả lời: “Họ sẽ không tin điều ngươi nói. Cuốn sách sự thật mà bọn tin Jêsus dùng đầy những lời về hy vọng nơi thiên đàng qua sự tha tội. Chúng nó biết thiên đàng là sự thật nên sẽ không tin ngươi đâu”. Một quỉ khác tâu: Thưa chúa, tôi có ý này. Tôi sẽ thủ thỉ vào tai chúng nó là sẽ không có địa ngục. Bộ ngươi điên hay sao, Satan quát, hễ chúng tin có ta và các ngươi thì sao chúng nó lại không tin có địa ngục. Hơn nữa chẳng qua tên Jêsus nói nhiều về địa ngục trong cuốn sách sự thật viết về hắn hay sao? Một quỉ nhỏ nhưng khôn ngoan, hiểm độc hơn hai tên kia tâu: Tôi biết mình cần làm gì với bọn tin Jêsus rồi. Chúng ta chỉ cần nói với chúng là đừng vội vàng tin Jêsus làm gì, đừng vội tin sách đó là thật. Hãy từ từ, thông thả. Còn nhiều thời gian mà. Satan chấp thuận mưa kế này.
Có thể quí vị hiện diện tại đây không biết mình nghĩ gì, tin gì về KT, về thiên đàng, địa ngục, về sự cứu rỗi. Có thể một số không nghi ngờ sự thật của lời Chúa trong KT, sự thật về sự cứu rỗi của ĐCJC, về thiên đàng, địa ngục nhưng nghĩ rằng mình vẫn còn nhiều thời gian để suy nghĩ, chọn lựa, quyết định. Vậy cứ tà tà, thông thả mà lo quan trọng trước đã rồi hãy tính đến ba vụ tìm chân lý này!
Bài giảng hôm nay về hy vọng cho người tìm chân lý, sự thật. Hy vọng bởi vì chúng ta có thể biết chân lý, lẽ thật; hy vọng bởi vì chúng ta vẫn còn cơ hội sáng nay để tìm đến và nhận lấy sự thật; hy vọng bởi vì biết rằng sự thật đó sẽ giải thoát chúng ta, đem lại một cuộc đời mới với ý nghĩa, mục đích mới.
[[3] Đọc Giăng 8:21-36, [4] Ma-thi-ơ 2:1-12]
Ba câu hỏi chúng ta sẽ suy nghĩ sáng nay là: [5a] 1) Sự thật là gì? [5b] 2) Làm sao để biết sự thật? [5c] 3) Sự thật giúp gì cho đời tôi?
[6] SỰ THẬT LÀ GÌ?
Trong bài giảng trước đây về Hy Vọng Cho Người Tìm Mục Đích¸chúng ta biết rằng một cuộc đời không mục đích hay có mục đích sai lầm là một cuộc đời phí uổng, đáng thương hại. Nhưng khi nói rằng mục đích sai lầm tức phải có mục đích đúng, có lẽ thật, chân lý. Một đoàn tàu ra khơi nếu không biết đi đâu thì cũng sẽ trôi nỗi trên đại dương mênh mông để mặc sống đưa đi đâu thì đi. Nhưng nếu nhất định đi đến một nơi không có trên bản đồ thì cũng vô ích. Nơi đến phải có thật. Cũng vậy dù có nhiệt tình đến mấy, năng nổ đến mấy trong cuộc sống nhưng nếu cho sự giả dối thì cuộc đời cũng vô ích. Cứ nhìn xem bọn khủng bố hồi giáo hay những người thanh niên trong các băng đảng sẵng sàng chết. Mục đích đời họ thật sai lầm. Bởi vì họ không biết sự thật, chân lý cho đời sống.
Thử tượng tượng với tôi một chút về cuộc đời sống không có sự thật.
Vậy câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất cần hỏi: Sự thật là gì?
Khi ĐCJC bị bắt và giải ra trước tổng trấn Phi-lát, Phi-lát hỏi có phải Chúa là vua hay sao? [7] Chúa trả lời Phi-lát Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đă sanh và vì sao ta đă giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta. (Giăng 18:37). Nghe lời này Phi-lát hỏi: Lẽ thật là gì? (What is truth?)
[Câu chuyện hai anh em gian dối và người MS trẻ tuổi.]
Có hai anh em nọ rất giàu có. Nhưng họ cũng là những người gian xảo, độc ác. Cả hai đều sống tội lỗi, dùng tiền của để che đậy sự đen tối, cuộc sống thật bên trong. Bề ngoài thì họ là những người đạo đức, dâng hiến nhiều để xây dựng HT. Rồi HT có một mục sư mới đến, trẻ tuổi nhưng nhiệt thành, thẳng thắng, nói sự thật của lời Chúa. Một thời gian HT có nhu cầu về tài chánh nên người MS trẻ tuổi này kêu gọi dâng hiến. Dĩ nhiên người MS này cũng thấy thấu qua cái vỏ đạo đức bề ngoài của hai anh em giàu có đó. Thình lình người em chết. Người anh yêu cầu MS làm lễ tang cho em mình. Trước ngày lễ tang, người anh kéo MS đưa cho một phong bì dầy rồi nói riêng: Tôi chỉ có một yêu cầu nhỏ: Khi làm lễ MS nói với mọi người rằng em tôi là một người thánh. Người MS hứa với người anh sẽ làm điều đó trong tang lễ. Chiều hôm đó MS đưa cho người thủ quỷ bao thơ để bỏ vào trương mục HT. Ngày hôm sau trong tang lễ người MS trẻ đứng trước quan tài của người em và nói trước hội chúng: Người này là một người tội nhân xấu xa. Ông ngoại tình với vợ, ngược đãi con cái, gian dối trong công việc, và đạo đức giả trong HT. Nhưng so với người anh của ông ta thì ông là một người thánh!
Rất nhiều người hỏi không phải để hiểu biết thêm, để tìm sự thật nhưng để cho có, hay để bắt bẻ. Tôi tin quí vị hiện diện tại đây hỏi với mục đích để tìm sự thật. Và nếu sáng nay tôi hỏi quí vị sự thật là gì, quí vị trả lời thế nào? Thật sự đây là một câu hỏi rất khó. Biết bao nhiêu triết gia, văn sĩ, thông thái bỏ cả đời chỉ để có thể trả lời câu hỏi này. Theo tự điển bách khoa về triết học của trường đại học Stanford (Stanford Encyclopedia of Philosophy) thì Sự thật là một trong những trọng đề của triết học. Đây cũng là một trọng đề lớn nhất. Sự thật là một đề tài quan trọng đã được thảo luận hằng ngàn năm qua. Hơn nữa, có biết bao nhiêu vấn đề về triết lý liên quan đến sự thật, hoặc dựa vào các học thuyết này để giải thích sự thật, hay dùng sự thật để đưa đến những học thuyết này. Một triết gia viết: Mọi sự thật đều dễ hiểu một khi đã được khám phá; cái khó là khám phá ra được sự thật!
Có người nói rằng sự thật là điều mắt thấy, tai nghe, tay sờ được. Tuy vậy có rất nhiều trong đời này dù không thấy, không nghe nhưng vẫn là sự thật. Có ai trong chúng ta thấy được vua Quang Trung, Lê Lợi hay tướng Lê Lai nhưng những nhân vật này có thật trong lịch sử. Sau khi HK thành công trong việc gởi người lên mặt trăng thì vẫn có những người nghĩ rằng đó là việc huyền thoại vì họ không thấy được tận mắt.
Cũng có người nói rằng sự thật là điều mình có niềm tin tưởng hết sức mạnh mẽ trong lòng. Bọn hồi giáo cực đoan cũng tin tưởng mãnh liệt vào niềm tin của chúng. Nhưng có ai trong quí vị tin rằng khi tự buộc bomb vào mình để giết người khác lại được lên thiên đàng và có nhiều nữ nhân đồng trinh ăn ở, hầu hạ cho mình? Chúng ta cho đó là đồ điên dại, nhưng họ cho đó là sự thật!
Vậy phải chăng sự thật tùy người đối diện? Có thể thật cho anh nhưng không thật cho tôi. Hay có thể tôi tin là thật nhưng chị lại cho là giả? Đây là một quan điểm phổ thông trong xã hội hôm nay. Quan điểm này cũng ảnh hưởng cả đến tín đồ và những người giảng dạy lời Chúa. Họ cho rằng đạo này cũng đúng (xin chú ý tôi không nói đạo nào cũng tốt vì thật sự thì hầu hết các tôn giáo đều dạy đều tốt) và ĐCT thông cảm cho người tin vào các đạo khác. Đường nào rồi cũng dẫn đến thiên đàng cả.
Tuy nhiên KT khẳng định rằng chỉ có một Đấng Cứu Rỗi là ĐCJC, chỉ có một con đường đến thiên đàng là con đường qua Chúa, chỉ có một Đấng là sự thật là Jêsus Christ. [8] Khi Thô-ma, một môn đồ hay nghi ngờ hỏi Chúa: Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được? Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6) Chúa khẳng định và quả quyết rằng chính Ngài và chỉ một mình Ngài là đường đi, là lẽ thật, là sự sống. Xin chú ý ĐCJC không nói: Ta biết đường đi, ta biết lẽ thật, ta biết sự sống. Như Phật bảo các môn đồ của ngài: Chớ lầm ngón tay ta với mặt trăng. Ta chỉ cho các ngươi mặt trăng nhưng tay ta không phải là mặt trăng; nói cách khác Phật không tự nhận ngài là sự thật mà chỉ biết đường đến sự thật. Trong các tôn giáo chỉ có ĐCJC tự nhận mình là lẽ thật, là đường đi, là sự sống.
[9] LÀM SAO ĐỂ BIẾT SỰ THẬT?
Đoạn KT chúng ta đọc trong Giăng 8:21-36 nói về cuộc đối thoại giữa ĐCJC và những người thầy thông giáo và Pha-ri-si. Đây là những người có kiến thức, biết luật pháp Mô-se, được xã hội kính trọng, nể nang vì có chức phận. Họ là những người dạy luật pháp cho dân chúng và là gương mẫu cho xã hội. Hơn nữa những lời này của ĐCJC cũng nói với tất cả những người nghe Chúa, mà KT gọi là người Giu-đa.
Câu 30 cho biết rằng một số sau khi nghe lời Chúa thì tin Ngài. Câu này cũng hàm ý rằng còn số khác thì hoặc không tin, hoặc không màng, hoặc nghĩ rằng họ vẫn còn có thời gian và cơ hội. Tôi muốn quí vị cùng tôi chú ý đến Giăng 8:31 là lời ĐCJC nói với những người Giu-đa đã tin Ngài (chứ không phải cho những người chưa tin) Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đă tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi. Từ buông tha được dịch trong bản cũ có nghĩa là giải thoát, làm cho tự do, giúp cho thoát ra được vòng kềm hãm. Bản mới dịch như sau: Nếu các ngươi trung tín với lời dạy của ta thì các ngươi sẽ là môn đệ thật của ta. Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi.
Có bao giờ đọc câu KT này quí vị lại hỏi rằng tại sao ĐCJC lại nói với những người đã tin Ngài rằng họ sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát họ? Nói một cách khác: tin Chúa rồi thì mới sẽ biết sự thật và khi biết được sự thật rồi thì sự thật sẽ giải thoát họ. Tại sao Chúa không nói những lời này với những người không tin hay chưa tin Ngài? Và sự thật giải thoát, là giải thoát khỏi điều gì?
Mấy điều quan trọng trong lời này của ĐCJC:
Đây là một câu nói với điều kiện Nếu các người… thì các ngươi
Trung tín với lời dạy của Chúa thì mới là môn đệ thật. Nếu có thật phải có giả. Ai là môn đồ giả, những người không trung tín, không vâng phục lời dạy Chúa.
Chỉ khi là môn đệ thật thì mới biết được sự thật, chân lý.
Sự thật sẽ giải thoát
Vậy làm sao để biết sự thật?
Được nghe, được giải thích rõ ràng để có thể hiểu và chọn lựa
Quyết định qua sự lựa chọn. Hoặc tin Chúa, hoặc không tin, hoặc vẫn còn suy nghĩ, hoặc nghĩ rằng vẫn còn thời gian nên chờ.
Cầu nguyện tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa của đời sống.
Phải là môn đệ thật của ĐCJC. Làm sao có thể làm môn đệ thật? Phải trung tín với lời Chúa dạy (hàm ý rằng đã tin và theo Ngài).
ĐTL sẽ giúp chúng ta ngày càng hiểu hơn về sự thật khi chúng ta sống theo sự thật trong lời Chúa. Sự thật từ ĐCT không phải chỉ đến một lần rồi chấm dứt nhưng là một quá trình trong suốt cả đời người tin Chúa (progressive revelation instead of instant revelation).
Chính vì lý do này mà ĐCJC phán cùng những người đã tin Ngài rằng họ sẽ biết sự thật, tức họ sẽ dần dần theo thời gian biết rõ hơn về Ngài bởi vì chính Ngài là sự thật. Thế nào là biết? Có phải là có kiến thức về Jêsus? Rất nhiều có kiến thức nhiều về KT, về cuộc đời, về lời dạy của ĐCJC nhưng có biết sự thật như Chúa dạy hay không? Câu trả lời là nếu không tin Chúa thì họ chỉ biết về kiến thức chứ chưa thật sự biết qua kinh nghiệm trong đời sống.
NGƯỜI TÌM CHÂN LÝ
Câu chuyện Giáng Sinh gồm nhiều nhân vật khác nhau. Ma-ri, Giô-sép. Đại đế Xê-xa, người ra chiếu chỉ kiểm tra dân số. Các mục đồng ngoài đồng chăn giữ bầy chiên trong đêm Jêsus giáng sinh. Thiên sứ hiện ra cùng các mục đồng. Các vua đến từ phương đông đến tìm Jêsus mới hạ sinh. Vua Hê-rốt, cả dân sự trong thành Jêrusalem. Nếu hỏi ai là những người đi tìm chân lý, quí vị kể ai? Ma-ri, Giô-sép, các mục đồng, và các vua đến từ phương đông. Tôi muốn chú ý về các vua này.
Năm rồi khi giảng về câu chuyện giáng sinh tôi cũng dùng từ các vua từ phương đông thì có người trách bộ tôi không biết rằng chỉ có ba vua hay sao? Theo truyền thống (tradition) thì có ba vua từ phương đông đến để thờ lạy con trẻ Jêsus. Thậm chí có cả tên họ là Balthasar, Melchior, và Casper. Tuy nhiên Mathiơ 2:1-2 chỉ viết Khi Đức Chúa Jêsus đă sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đă thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài. Ý nghĩ ba vua có lẽ từ ba vật quý những người magi dâng Chúa là vàng, nhũ hương và một dược. Từ magi từ chữ Hy-lạp magus có nghĩa là giàu có, thông thái, quyền thế.
Tôi muốn nêu ra một vài chi tiết về câu chuyện những người thông thái từ phương đông đến tìm thờ lạy Chúa:
Họ là những người ngoại đến từ phương đông xa xôi, chứ không phải người Giu-đa trong xứ.
Họ đến thành Jêrusalem sau khi Jêsus đã hạ sinh. Có thể họ nhìn thấy ánh sáng báo về sự ra đời của đấng Mê-si đã được tiên đoán trước nhưng vì đường xa nên khi đến thành J. thì con trẻ đã sinh ra. Điều này nói lên một nỗ lực lớn của các bác sĩ này.
Khi đến Jêrusalem họ hỏi để tìm biết nơi Jêsus sinh ra. Nhưng vua Hê-rốt hỏi họ để hại Chúa.
Khi thấy được ngôi sao dẫn đường đến tìm được Jêsus thì Mấy thầy nghe vua phán xong, liền đi. Kìa, ngôi sao mà họ đă thấy bên đông phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại. Mấy thầy thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội. Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược (Mathiơ 2:11-12). Không những lặn lội đường xa đến đến thờ lạy mà họ còn đem theo các lễ vật quí để dâng tặng.
ĐCT không để dành sự thật cho một vài người nhưng cho mọi người tìm kiếm thật lòng. Tuy nhiên phải đi tìm nó dù có tốn kém thời gian, công sức, dù có vất vả, cực nhọc như chuyến đi của các bác sĩ đông phương. Và sự thật được ĐCT gói trong hình hài nhỏ bé của trẻ thơ Jêsus. Jêsus chính là sự thật.
Còn Hê-rốt thì sao? Hắn nghĩ về quyền thế của mình nhiều hơn về sự thật. Hắn chỉ lo sợ sẽ mất ngôi, mất thế lực, địa vị.
Người dân trong thành? Bối rối, hoang mang không biết điều gì sẽ xảy ra. Vua mới này với Hê-rốt sẽ tranh chấp nhau thế nào? Sẽ ảnh hưởng đến đời sống họ thế nào?
Những thầy tế lễ cả và thông giáo? Đây là những người thông hiểu, am tường KT, biết về tiên tri trong KT, nhưng lại dững dưng, thờ ơ hoặc ganh tị khi nghe tin này từ các magi.
Tin Lành về ĐCJC đến VN 100 năm trước đây. Tôi chắc rằng những năm tháng đầu tiên gặp nhiều khó khăn, bắt bớ từ vua nhà Nguyễn và dân chúng. Những người tin Chúa đầu tiên, người tìm đến sự thật trả một giá rất cao cho sự thật họ tìm kiếm và tin tưởng. Mãi cho đến hôm nay tin vui mừng này về Jêsus Christ đã được phổ biến rộng rãi trong nước và tại trên HK này cho đồng bào VN. Tìm đến sự thật hôm nay không gian nan, cực nhọc, nguy hiểm như cuộc hành trình của các bác sĩ phương đông. Trái lại rất dễ dàng và tiện lợi.
Nhưng dù khi sự thật ở gần như Jêsus sanh ra tại Bết-lê-hem chỉ cách Jêrusalem vài dặm đường (~6 miles) thì không có nghĩa là những người gần đó như dân thành J., như các thầy tế lễ cả, các thông giáo đều nhận lấy sự thật. Sự dễ dàng có thể sinh ra sự ỷ lại, nghĩ rằng mình vẫn còn có thời gian, còn có cơ hội.
Tôi khuyên quí vị chớ trì hưỡn, chờ đợi. Hãy tin Chúa và đón nhận sự thật từ Ngài.
[11] SỰ THẬT GIẢI THOÁT
[12] Chúa phán: Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi. Giải thoát khỏi những điều gì? Khi nghe lời hứa về sự giải thoát này thì dân sự Giu-đa tức giận bởi vì theo lời họ Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?(8:33) Có thật họ chưa bao giờ làm tôi mọi cho ai sao? Họ quên rằng họ làm nô lệ trong xứ Ai-cập khoảng 400 năm. Họ quên rằng dân sự trong thành Jêrusalem đã có lần bị Nê-bu-cát-nê-xa bắt giải về xứ Ba-by-lôn. Họ quên rằng họ đang là dân thuộc địa của đế quốc La-mã.
Điều này có gì là lạ? Biết bao nhiêu người nghĩ rằng mình đã biết sự thật, đã có sự tự do nhưng thật sự họ vẫn còn trong bóng tối. Bóng tối của tội lỗi: của sự tham lam, kiêu hảnh, ích kỷ, giả dối, hai mặt. Nhưng ai có thể thấy được chính mình nếu không có tấm gương hay người khác chỉ ra cho thấy.
Cho đến khi nào chúng ta, như dân nghe lời ĐCJC, chưa ý thức rằng mình đang là nô lệ của tội lỗi thì chúng ta vẫn tiếp tục khất khứa ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần nọ về việc tin Chúa. Đây chính là điều ma quỉ rất mong muốn quí vị làm theo.
ĐCT đã ban cho mỗi người nhiều cơ hội để nghe, để suy nghĩ, để chọn lựa, để quyết định chọn con đường chân lý trong Jêsus. Hy vọng tìm chân lý vẫn đang còn đó cho ai chưa tin nhận Chúa.
Người theo Chúa là người thú nhận rằng ở giữa bao nhiêu tiếng nói hổn độn trong thế giới này, chỉ có một tiếng nói chinh phục tất cả đời sống, phối hiệp tất cả sức lực, tâm trí và tình cảm, vào một ý hướng dâng hiến. Tiếng nói đó là Jêsus Christ. Người theo Chúa không chỉ là những người tin Ngài là ai nhưng tin vào Ngài với tất cả con tim, trí tuệ và sức lực… Dù người theo Chúa vẫn còn những thắc mắc, nhưng một khi đã quyết định thì họ bắt đầu kinh nghiệm được niềm vui về cuộc đời họ được xử dụng cho một mục đích cao cả hơn.
A Christian is a person who confesses that, amidst the manifold and confusing voices heard in the world, there is one Voice which supremely wins his full assent, uniting all his powers, intellectual and emotional, into a single pattern of self-giving. That Voice is Jesus Christ. A Christian not only believes that He was; he believes in Him with all his heart and strength and mind. Christ appears to the Christian as the one stable point or fulcrum in all the relativities of history. Once the Christian has made this primary commitment he still has perplexities, but he begins to know the joy of being used for a mighty purpose, by which his little life is dignified.
