Huyền Nhiệm Về Hội Thánh Đức Chúa Trời
Trong Ê-phê-sô 3, PL viết về 2 sự huyền nhiệm (điều mầu nhiệm BTT). Từ này trong KTTU không phải là một bí mật, bí ẩn được khám phá, nhưng là một điều đã được giấu kín nhưng nay được ĐCT bày tỏ ra cho biết. Hai huyền nhiệm này là về hai điều liên hệ với nhau: Tin Lành và HT Chúa.
Huyền nhiệm thứ nhất là về tin lành hay phúc âm: Tôi nhờ Chúa khải thị được biết huyền nhiệm, như tôi vừa viết vắn tắt cho anh chị em. 4 Đọc những lời ấy, anh chị em có thể nhận biết tôi đã hiểu thấu huyền nhiệm của Chúa Cứu Thế. 5 Trong các thế hệ trước, không ai biết được, nhưng hiện nay, huyền nhiệm ấy đã được Đức Thánh Linh khải thị cho các sứ đồ thánh và các tiên tri Ngài. 6 Đó là nhờ Phúc Âm, các dân tộc ngoại quốc được cùng người Do Thái thừa kế cơ nghiệp Chúa, trở thành chi thể cùng một thân, và chung hưởng lời hứa trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (2-6 – BDM). Trong đoạn 2 PL viết rằng sự hiệp một này có thể xảy ra bởi vì ĐCJC, qua sự chết và sống lại của Ngài, đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa 2 dân, 2 nhóm người để họ có thể hiệp làm một thân trong Chúa. Thân tức là HT.
Huyền nhiệm thứ hai là về HT: Theo ân sủng Đức Chúa Trời ban, tôi được trở thành người phục vụ Phúc Âm, nhờ quyền năng Ngài tác động. 8 Tôi hèn mọn nhất trong tất cả các thánh đồ, nhưng Đức Chúa Trời lại ban cho tôi đặc ân truyền giảng cho các dân tộc ngoại quốc biết sự phong phú vô biên của Chúa Cứu Thế, 9 và soi sáng cho mọi người biết thế nào là chương trình huyền nhiệm mà Đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo vạn vật, chưa bao giờ tiết lộ suốt các thời đại trước nay. 10 Nhưng hiện nay, [Mục đích của ĐCT là – BPT] qua hội thánh, sự khôn ngoan mọi đường của Đức Chúa Trời đã được trình bày cho các giới cai trị và uy quyền trên các tầng trời được hiểu biết, 11 đúng theo kế hoạch đời đời Ngài đã thực thi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. (7-11 – BDM)
Ý của 4 câu KT này là gì? Huyền nhiệm của ĐCT là qua HT mọi sự khôn ngoan mọi đường (đa hình, đa dạng – BD2011) của ĐCT được bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên các tầng trời, tức là thiên sứ và ma quỉ. Nếu bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên các tầng trời thì đương nhiên cũng bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên đất. Nghĩa của mấy câu KT này không khó hiểu nhưng khó hơn vô cùng là câu hỏi tại sao và làm thế nào: Tại sao ĐCT lại chọn HT để bày tỏ sự khôn ngoan mọi đường cho thiên sứ & ma quỉ và làm thế nào để HT có thể bày tỏ mọi sự khôn ngoan của ĐCT.
HỘI THÁNH CỦA ĐCT
Trước hết tôi muốn giải thích rõ HT là gì? HT khác với nhà Chúa hay đền thờ ĐCT trong KTCU thế nào? Trong KTCU khi S. viết về nhà Chúa thì ông nói về đền thờ của ĐCT tại Jerusalem. Có nghĩa là một công trình kiến trúc, một cơ sở cố định. [Giải thích về đền tạm là nơi ĐCT ngự, đền thờ xưa vua S. xây cất]. Ngày xưa dân chúng đến đền thờ để gặp Chúa.
Sau khi ĐCJC đã về trời thì ĐCT ban cho những người tin Ngài ĐTL như lời ĐCJC đã hứa: Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:16-17).
Chính sự hiện diện của ĐTL mà thân thể của người tin Chúa trở nên đền thờ của ĐCT. Trước dân chúng đến đền thờ, nay ĐTL đến với người tin Chúa để lập đền thờ: đây là một sự kiện vô cùng kỳ diệu! PL viết: Anh chị em không biết rằng anh chị em chính là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh chị em sao? 17 Nếu ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại kẻ đó. Vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh khiết và đền thờ đó chính là anh chị em. (1 Cô-rinh-tô 3:16-17 – BDM)
Hình ảnh đầu tiên và thông thường nhất khi nghe từ HT là người ta nghĩ về một buiding, một tòa nguyện, nhà thờ. Nhưng KTTU không hề có ý như vậy. Lý do cũng đơn giản bởi vì trong thế kỷ đầu tiên sau, tín đồ không có nhà thờ mà chỉ nhóm lại với nhau, hoặc tại các nhà hội DT, hoặc tại một nơi công cộng, hoặc tại nhà người tin Chúa.
KTTU có ít nhất 80 lần trong 79 câu đề cập đến HT. Bốn sách/thư có từ HT nhiều nhất là CV, 18 lần, 1 Cô-rinh-tô 16, Ê-phê-sô 9, và KH 7 lần. Tất cả 80 lần này đều cùng một từ nguyên thủy là ekklēsia, có nghĩa là một nhóm người nhóm lại với nhau tại một nơi công cộng. Đây là một từ ghép từ hai gốc từ là ek là từ một nơi, một chỗ, và kaleō là được gọi lớn tiếng, gọi chính tên, hay gọi để mang một tên, một danh hiệu. Ghép lại ekklēsia có nghĩa là một nhóm người được gọi ra chính tên nhóm lại với nhau nơi công cộng. Ai là những người được gọi? Những người được ĐCT chọn để cứu. Gọi để làm gì? Để họ nhóm lại với nhau. Đây là nghĩa của từ HT.
Vì HT là một số tín đồ nhóm nhau lại nên khi nói HT có vấn đề, có sự lục đục, có nghĩa là tín đồ có vấn đề, có sự lục đục với nhau (chứ không phải băng ghế đầu cải vã với băng ghế cuối, hay bộ trống có vấn đề với cây đàn piano!) Vì HT là một số tín đồ nhóm nhau lại nên khi nói HT rạn nứt, chia rẽ có nghĩa là quan hệ giữa các tín đồ rạn nứt, tín đồ bất hòa chia làm năm ba phe, nhóm này nghịch với nhóm khác. Vì HT là một số tín đồ nhóm nhau lại nên khi nói HT có vấn đề với MS, hay MS có vấn đề với HT có nghĩa là MS có vấn đề với tín đồ, hay tín đồ có vấn đề với MS. Vì HT là một số tín đồ nhóm nhau lại nên khi nói HT thực hiện 4 mục đích, đại mạng lệnh có nghĩa là tín đồ thực hiện 4 mục đích, ĐML.
Tôi chắc qv đã hiểu rõ ý tôi. Nhưng để chắc, tôi muốn qv cùng lập lại với tôi: HT là một nhóm tín đồ hiệp nhau lại để cùng thờ phượng, sống & làm theo lời Chúa dạy trong KT. Tín đồ là những người đã tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa của đời sống họ và sống, làm theo lời Chúa dạy trong KT. Vậy điều quan trọng cần nhớ khi nói đến HT là nói đến những người tin Chúa cùng đến một nơi để thực hiện 4T.
Câu hỏi tiếp là ai lập ra HT? Có phải các sứ đồ đầu tiên hay PL, hay do ý của các tín đồ đầu tiên? Câu trả lời là chính ĐCJC là Đấng lập ra HT. Chính ĐCJC là người đầu tiên trong KTTU dùng từ hội thánh khi nói với Phi-e-rơ: Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó (Ma-thi-ơ 16:18) Chúa nói chính Ngài sẽ lập nên HT, và gọi HT là HT của Ta. Hôm nay lắm khi người ta nghĩ đến HT, họ nghĩ đến HT Báp-tít, HT CMA, HT Ngũ Tuần… nhưng quên đi HT do chính ĐCJC lập và gọi là HT của Ngài.
ĐCJC cũng nói về vai trò của HT khi dạy các môn đồ về cách giải quyết khi có một người tin Chúa phạm tội: "Nếu có một anh em có lỗi với con, hãy đến gặp riêng người mà khuyên bảo. Nếu người nghe lời thì con được lại anh em. 16Nếu người không nghe, hãy đem một hai người theo với con đến gặp người, để nhờ lời của hai hay ba người chứng mà vấn đề được xác lập. 17 Nếu người vẫn không nghe họ, hãy trình với hội thánh; nếu người cũng không chịu vâng lời hội thánh, thì hãy coi người như người ngoại đạo hay kẻ thu thuế. (Ma-thi-ơ 18:15-17 – BDM)
Khi PL gặp Chúa trên đường đến Đa-mách để xin lệnh bắt bớ người tin Chúa, KT viết: Nhưng Sau-lơ đang đi đường gần đến thành Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. 4 Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ ta? 5 Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Jêsus mà ngươi bắt bớ (CV 9:3-5). ĐCJC nói rằng ai bắt bớ người tin, theo Chúa tức là bắt bớ chính Chúa.
Trong lời dặn dò với các trưởng lão HT Ê-phê-sô, PL nói: Anh em hãy giữ mình và toàn thể bầy chiên mà Thánh Linh đã đặt anh em làm giám mục, để chăn dắt hội thánh của Đức Chúa Trời mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. 29 Tôi biết rằng sau khi tôi ra đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào giữa anh em, chẳng dung tha bầy chiên đâu. (CV 20:28-29).
Khi dạy về quan hệ vợ chồng trong hôn nhân, PL dùng hình ảnh của ĐCJC và HT: Hỡi các người vợ, hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, 23 vì chồng là đầu vợ, như Chúa Cứu Thế là Đầu của hội thánh, hội thánh là thân thể Ngài, chính Ngài là Đấng Cứu Thế của Thân Thể. 24 Như hội thánh tùng phục Chúa Cứu Thế, người vợ cũng tùng phục chồng trong mọi việc. 25 Hỡi các người chồng, hãy yêu vợ như Chúa Cứu Thế yêu hội thánh và hiến thân Ngài vì hội thánh, 26 để thánh hóa hội thánh, dùng nước và đạo mà rửa sạch… 32 Huyền nhiệm này thật vĩ đại tôi nói đến Chúa Cứu Thế và hội thánh. (Ê-phê-sô 5:22-32 – BDM)
Vậy HT là một nhóm người tin Chúa được gọi để nhóm lại với nhau để làm trọn lời dạy của ĐCJC. Và huyền nhiệm là ĐCT đã định từ trước muôn đời để dùng những nhóm người này để bày tỏ sự khôn ngoan mọi đường của ĐCT cho thiên sứ, ma quỉ và cho mọi người trên đất này.
HUYỀN NHIỆM VỀ HT ĐCT
Tôi muốn lập lại ý là nghĩa của mấy câu KT về huyền nhiệm HT ĐCT không khó hiểu nhưng khó hơn vô cùng là câu hỏi tại sao và làm thế nào: Tại sao ĐCT lại chọn HT và làm thế nào để HT có thể bày tỏ mọi sự khôn ngoan của ĐCT.
Để trả lời câu hỏi thứ nhất chúng ta cần hiểu sự khác biệt giữa ĐCT và loài người, sự khôn ngoan của ĐCT và của loài người. Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. 9 Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu. (Ê-sai 55:8-9)
Bài giảng trên núi: đi đường hẹp; nhường nhịn quyền tự bảo vệ, tài sản, thời gian (ai vả má, lấy áo, bắt đi một dặm đường). Ban cho có phước hơn nhận lãnh.
12 sứ đồ Chúa chọn + PL là người đã bắt bớ, tìm giết người tin Chúa
Sự chết của ĐCJC
Ai muốn làm lớn phải làm đầy tớ, muốn đứng đầu phải phục vụ
Trong đoạn KT đọc đối đáp theo 1 Cô-rinh-tô 1:18-29, sứ đồ PL tương phản giữa sự khôn ngoan của ĐCT và loài người. Tôi nghĩ đây là đoạn KT rõ hơn hết giúp chúng ta hiểu về sự huyền nhiệm về HT Chúa. PL viết: Vì đối với những người hư mất, sứ điệp của thập tự giá là ngu dại. Nhưng đối với chúng ta, những người được cứu rỗi thì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời. 19 Vì Thánh Kinh chép: "Ta sẽ hủy diệt sự khôn ngoan của người khôn ngoan. Và phá bỏ sự hiểu biết của người thông thái." 20 Người khôn ngoan đâu rồi? Học giả đâu rồi? Những nhà hùng biện của đời này đâu rồi? Không phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian thành điên dại hay sao? 21 Bởi vì cứ theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, thế gian cậy sự khôn ngoan riêng của mình không nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài vui lòng dùng điều bị coi là ngu dại của việc truyền giảng Phúc Âm để cứu rỗi những\. người tin. 22 Vì người Do Thái đòi hỏi dấu lạ còn người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan. 23 Nhưng chúng ta truyền giảng Phúc Âm về Chúa Cứu Thế bị đóng đinh trên thập tự giá, là điều người Do Thái cho là nhục hình và người ngoại quốc cho là ngu dại. 24 Nhưng đối với những người được Chúa kêu gọi, cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp, Chúa Cứu Thế là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. 25 Vì điều bị cho là dại dột của Đức Chúa Trời vẫn trổi hơn sự thông sáng của loài người và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời mạnh hơn sức mạnh loài người. 26 Anh chị em hãy xem xét lúc Chúa kêu gọi anh chị em. Giữa vòng anh chị em không có mấy người khôn ngoan theo trần tục, không mấy người có quyền thế, cũng không có nhiều người quý phái. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. 29 Cho nên loài người không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 1:18-29 – BDM)
Trước hết tôi muốn giải thích rõ rằng đoạn KT này không dạy chúng ta phải xem thường, khinh dễ người khôn ngoan, kiến thức đời này; không đi học, không đi bác sĩ. Nhưng để hiểu rằng giữa sự chọn lựa, vâng phục lời Chúa và sự khôn ngoan của đời này thì chúng ta cần làm theo lời Chúa dạy.
Khi chọn người để cùng làm việc, hùm hợp làm ăn, qv chọn ai? Người khôn hay kẻ dại? Khi các trường đại học tuyển sinh viên, họ chọn các sinh viên theo tiêu chuẩn nào? Học giỏi, có thành tích. Khi chọn những người lãnh đạo qv chọn người thế nào? Nói chung là người đời này không bao giờ chọn những gì dở, xấu, thiếu kiến thức, nghèo nàn, dại dột, yếu đuối cả. Nhưng ĐCT lại chọn những con người mà đời này xem thường, khinh dễ, coi rẽ, bỏ qua để lập HT, để thực hiện đại mạng lệnh của Chúa Giê-xu, để bày tỏ mọi sự khôn ngoan của ĐCT cho mọi thẩm quyền, dù là trên trời hay dưới đất.
Khi những người có tội, có lỗi, vẫn còn phạm tội, phạm lỗi nhóm lại với nhau thì chắc chắn sẽ có vấn đề. Nhưng chính qua những con người tội lỗi đó, qua bao nhiêu vấn đề xảy ra trong HT thì quyền năng về sự thay đổi đời sống mới được bày tỏ. Tôi sẽ giải thích rõ hơn về ý này trong bài giảng tuần tới.
Chúa cứu qv và tôi không phải vì việc lành chúng ta làm để không ai có thể khoe khoang về công đức. Cũng vậy ĐCT chọn những người thế gian coi không ra gì để lập HT hầu cho không ai có thể khoe khoang rằng vì tôi, nhờ tôi mà HT mới được thế này, thế khác.
Tôi muốn nhắc qv điều này. Từ khi ĐCJC chết, sống lại, gọi những người tin Ngài để thực hiện ĐML, từ khi ĐTL được ban cho những người tin Chúa, đã hơn 2000 năm qua. Trong 2000 năm đó đã có biết bao nhiêu đế quốc, đại đế chinh phục bao nhiêu đất đai, dân chúng, có bao nhiêu quyền hành trong tay. Theo wikipedia về lịch sử của các đế quốc thì trong 2000 năm qua đã có trên 150 đế quốc. Tôi hỏi qv ngày hôm nay có đế quốc nào tồn tại hay không? Chủ nghĩa này nọ được tuyên xưng, khen ngợi là giải pháp cho mọi nan đề xã hội; lãnh tụ này được đề cao là chúa tể hay cứu tinh dân tộc, thế giới, đến ngày nay có gì tồn tại?
Một số qv có nghe hay biết: đế quốc La-mã, Anh, Pháp, các nước Âu Châu thế kỷ 14-18, Alexander đại đế, Mông Cổ, Hồi giáo… Tất cả đều không còn. Tất cả chỉ là lịch sử về một thời vàng son xa xưa. Tờ báo Business Insider có một bài viết tựa là The 10 Greatest Empire in the World về các đế quốc lớn nhất trên thế giới trong 2000 năm qua. [show 5 đế quốc lớn nhất ] Đây là kết luận của bài báo đó: Một điều duy nhất mà tất cả 10 đế quốc lớn nhất trong lịch sử thế giới đều giống nhau là mỗi đế quốc đều đã biến mất!
Điều mầu nhiệm lạ lùng là HT ĐCT gồm những người thấp hèn, tầm thường, ít học, nghèo khó, may nóng giận, hay cải vả, ghen tị, chia rẽ vẫn tồn tại trong suốt 2000 năm qua và sẽ tồn tại cho đến khi ĐCJC chúng ta trở lại. Ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó (Matt 16:18). Qv có thể bỏ HT vì ở đó toàn là đại đức giả, chỉ thấy họ cải nhau, chia rẽ nhau; nhưng điều mầu nhiệm là dù vậy ĐCT không bỏ HT Ngài. Vậy khi qv bỏ HT Chúa, bỏ sự nhóm lại của những người được ĐCT chọn, gọi, biệt riêng để động viên nhau cùng làm công việc Chúa giao phó thì không phải HT Chúa mất phước, tổn hại mà chính qv mất phước, tổn hại. Bởi vì KT không dạy, ĐCT không hứa Chúa hiện diện cùng qv khi bỏ sự nhóm lại nhưng hứa sẽ hiện diện khi Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời. 19 Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ. 20 Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ (Ma-thi-ơ 18:18-20)
Tại sao ĐCT chọn HT để bày tỏ sự khôn ngoan mọi đường, muôn màu muôn sắc của Ngài cho các cầm quyền trên trời và cho mọi người trên đất này? Anh chị em hãy xem xét lúc Chúa kêu gọi anh chị em. Giữa vòng anh chị em không có mấy người khôn ngoan theo trần tục, không mấy người có quyền thế, cũng không có nhiều người quý phái. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. 29 Cho nên loài người không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 1:26-29 – BDM)
Vâng tôi tự thú với qv là HT nơi đây không mạnh mẽ, không hoàn thiện, có nhiều nan đề, gồm những người có tội. Nhưng chính ĐCT dùng một dụng cụ bất toàn này để nắn tạo nên những người mới trong ĐCJC để cho mọi người biết rằng nếu không bởi quyền năng của Ngài thì không ai có thể nhận lãnh điều gì cả. Và để không ai có thể khoe khoang về khả năng, ân tứ, về tính hạnh của mình trong HT ĐCT. Đây chẳng phải là một huyền nhiệm, một điều mầu nhiệm hay sao?
HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN
Ý của 4 câu KT này là gì? Huyền nhiệm của ĐCT là qua HT mọi sự khôn ngoan mọi đường (đa hình, đa dạng – BD2011) của ĐCT được bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên các tầng trời, tức là thiên sứ và ma quỉ. Nếu bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên các tầng trời thì đương nhiên cũng bày tỏ cho các giới cai trị và uy quyền trên đất. Nghĩa của mấy câu KT này không khó hiểu nhưng khó hơn vô cùng là câu hỏi tại sao và làm thế nào: Tại sao ĐCT lại chọn HT để bày tỏ sự khôn ngoan mọi đường cho thiên sứ & ma quỉ và làm thế nào để HT có thể bày tỏ mọi sự khôn ngoan của ĐCT.
KTTU có ít nhất 80 lần trong 79 câu đề cập đến HT. Bốn sách/thư có từ HT nhiều nhất là CV, 18 lần, 1 Cô-rinh-tô 16, Ê-phê-sô 9, và KH 7 lần. Tất cả 80 lần này đều cùng một từ nguyên thủy là ekklēsia, có nghĩa là một nhóm người nhóm lại với nhau tại một nơi công cộng. Đây là một từ ghép từ hai gốc từ là ek là từ một nơi, một chỗ, và kaleō là được gọi lớn tiếng, gọi chính tên, hay gọi để mang một tên, một danh hiệu. Ghép lại ekklēsia có nghĩa là một nhóm người được gọi ra chính tên nhóm lại với nhau nơi công cộng. Ai là những người được gọi? Những người được ĐCT chọn để cứu. Gọi để làm gì? Để họ nhóm lại với nhau. Đây là nghĩa của từ HT.
Câu hỏi chúng ta suy nghĩ là tại sao ĐCT lại chọn dùng HT để bày tỏ sự khôn ngoan, thông sáng muôn hình dạng, muôn màu sắc cùng các thiên sứ và ma quỉ trên các tầng trời. Và một trong những câu trả lời là từ lời viết của sứ đồ PL trong thư gởi cho HT Cô-rinh-tô: Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. 29 Cho nên loài người không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 1:18-29 – BDM)
ĐCT chọn HT gồm những người yếu đuối, hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian, những con người không ra gì tiếp tục công việc Chúa giao phó trên đất này để không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. Thành phần của HT đầu tiên và tại nhiều nơi trên thế giới hôm nay thật gồm những người ít học thức, những người lao động bình dân, những người thượng du miền núi, những người tại các nước Phi Châu hay Nam Mỹ nghèo khó.
Một triết gia Hy Lạp sống vào đầu thế kỷ thứ 2 tên Celsus viết về những tín đồ HT, những người tin Chúa trong thế kỷ thứ 1 khi hội thánh mới hình thành như sau: Mục đích của chúng [người tin Chúa] là chỉ để thuyết phục những người chẳng có giá trị gì và đáng khinh bỉ, những kẻ ngu dốt, bọn nô lệ, những người đàn bà nghèo, và trẻ con… Chúng không hề dám nói chuyện với những người thông minh… nhưng nếu chúng thấy một nhóm người trẻ tuổi hay bọn nô lệ, hay những kẻ lao động, họ lại cố chen vào và tìm cách để đám đông hâm mộ. Điều này cũng xảy ra trong nhà chúng. Chúng ta thấy những kẻ hớt lông chiên, kẻ đóng giầy, kẻ chùi rửa, bọn người dốt nát nhất và thiếu giáo dục (thất học). Đây là hạng người duy nhất mà họ có thể khiến trở nên những người tin đạo.
Dĩ nhiên vì ghét đạo Chúa và những người tin Chúa nên Celcus có những người khinh bỉ như vậy, nhưng không có nghĩa là những gì ông viết là hoàn toàn bịa đặt. Lời nhận xét của Celcus về những tín đồ hội thánh đầu tiên là thật. Đây là những người mà xã hội, đặc biệt là tầng lớp trí thức, vương giả, xem là chẳng có giá trị gì và đáng khinh bỉ, ngu dốt, nô lệ, nghèo khó, thất học. Vậy đó mà ĐCT đã dùng những người như vậy để lập hội thánh của Ngài và để đem TL từ Jerusalem, cho đến xứ Sa-ma-ri, cho đến xứ Giu-đê và cho đến đầu cùng trái đất.
Sách CV ghi lại lịch sử của HT đầu tiên tại thành Jerusalem viết về nhận xét của các quan và những người trưởng lão DT với 2 sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng: Khi thấy Phê-rơ và Giăng can đảm như thế, và nhận xét rằng hai ông là người tầm thường, kém học thức, họ đều kinh ngạc nhưng phải nhìn nhận rằng hai ông đã từng ở với Đức Giê-su. (CV 4:13 – BDM).
Trong bài giảng hôm nay tôi muốn cùng qv suy nghĩ về câu hỏi thứ hai về huyền nhiệm HT ĐCT: làm thế nào để HT có thể bày tỏ mọi sự khôn ngoan của ĐCT cho thiên sứ và ma quỉ cũng như cho các vua chúa trên đất này. Chú ý một điều vô cùng quan trọng là ĐCT dùng HT để bày tỏ sự khôn ngoan mọi đường của Ngài, chứ không dùng một cá nhân nào cả. Chúa dùng cộng đồng của những người được ĐCT chọn từ trước muôn đời để cứu chuộc và nhóm lại với nhau chứ không phải một cá nhân nào cả.
Tôi không hề dám nói rằng tôi biết rõ câu trả lời cho câu hỏi vô cùng khó này. Một trong những câu trả lời tôi bày tỏ cho qv trong bài giảng hôm nay là qua sự học hỏi, tìm hiểu KT và lịch sử HT đầu tiên. Câu trả lời là ĐCT dùng HT Ngài để bày tỏ mọi sự khôn ngoan, thông sáng của Ngài cùng các thiên sứ và ma quỉ trên các tầng trời qua con đường thập giá của Đấng Christ, qua con đường hẹp ĐCJC dạy trong bài giảng trên núi, qua quyền năng của ĐTL trong đời sống của người thật sự tin và vâng phục Chúa.
Hai đoạn KT tôi xin dùng để giải thích ý này là Phi-líp 2:3-8 và 1 Phi-e-rơ 2:21-25. PL dùng gương của ĐCJC để dạy các tín đồ học làm theo: Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. 5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Phi-líp 2:4-8)
Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ có nghĩa là có cùng một suy nghĩ, một thái độ, một cách sống như ĐCJC. Chúa là ĐCT, Ngôi Hai ĐCT nhưng lại bỏ đi chức vị, quyền năng, vinh hiển đó, tự hạ mình xuống thế gian để chịu chết cách đau đớn, nhục nhả trên thập giá.
Tin Lành là gì? Là Ngôi Hai ĐCT xuống thế gian, sinh trong chuồng chiên máng cỏ tối tăm, hôi hám, làm con của một người thợ mộc và một thiếu nữ tầm thường, lớn lên tại làng Nazareth, nơi mà khi nghe đến người ta hỏi: Có gì tốt từ nơi đó mà ra? Trong 3 năm Chúa giảng về sự cứu rỗi, về nước Trời cho những người dân dã, những người đánh cá, làm ruộng, làm vườn, những người thợ mộc, thợ đóng móng ngựa trong một chu vi ít hơn 100 miles. Không nhà cửa, không tiền của, không tiếng tăm. Rồi bị phản bội, bị bắt, bị vu cáo, bị xử cách oan ức, bị đánh đập, bị nhổ vào mặc, rồi bị đóng đinh trên thập giá giữa 2 tên trộm cướp. Tôi hỏi qv: câu chuyện này có nghịch với lý lẽ đời này hay không? Chiến thắng qua sự yếu đuối và sự khổ nhục. Chiến thắng qua sự mất tất cả. Có được qua sự cho đi tất cả.
Phi-e-rơ viết: Nếu làm điều ác mà bị đánh đập và chịu đựng được thì có gì đáng khoe? Nhưng nếu anh chị em làm lành mà chịu đau khổ, việc này rất đáng khen trước mặt Đức Chúa Trời. 21 Bởi việc này mà anh chị em được kêu gọi, vì Chúa Cứu Thế đã chịu khổ để làm gương cho anh chị em, hầu cho anh chị em theo bước chân Ngài. 22 "Ngài không hề phạm tội, và nơi miệng Ngài không hề lời dối trá nào." 23 Khi họ lăng nhục Ngài, Ngài không hề rủa lại; khi Ngài chịu khổ, Ngài không hăm dọa. Ngài phó thác chính mình Ngài cho Đấng xét đoán công bình. 24 Chính Ngài đã gánh tội lỗi của chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, nhờ đó chúng ta chết đối với tội lỗi và sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Ngài, anh chị em được chữa lành. (2:20-24 – BDM)
Vì Chúa Cứu Thế đã chịu khổ để làm gương cho anh chị em, hầu cho anh chị em theo bước chân Ngài. Khi bị bắt bớ, tha thứ; khi bị rủa sả, cầu nguyện; khi bị thù ghét, yêu thương. Khi chịu khổ, không hăm dọa. Nhưng phó thác cả cuộc đời cho ĐCT, tin rằng Ngài là Đấng sẽ xét đoán mọi việc trong ngày cuối cách công bình: sẽ trừng phạt kẻ ác, và ban thưởng con dân trung tín của Ngài.
Vũ khí duy nhất của HT Chúa là lời dạy của ĐCJC và các sứ đồ giờ được ghi lại trong KT, là tình yêu thương, sự tha thứ, nhẫn nại, nhân từ, mềm mại, nhịn nhục. Khi người đời khoe mình về quyền thế, chức tước, về sự giàu có thì HT Chúa, môn đồ của ĐCJC khoe mình về sự yếu đuối vì qua đó quyền năng ĐCT được bày tỏ, khoe mình về sự cứu rỗi, không phải đến từ công đức của mình, nhưng từ sự tha thứ và lòng thương xót vô hạn của Đấng Christ. Khoe mình như Martin Luther đã khoe mình khi tuyên bố simul justus et peccator, có nghĩa là chúng ta vừa là công chính như cũng vừa là tội nhân.
So với các công ty như Google, Facebook, HT ĐCT làm sao có thể so sánh về tài năng cá nhân, tài chánh, thế lực với chính quyền và dân chúng. So với các trường đại học, HT ĐCT cách gì có thể so sánh về những nhân tài học thức uyên thâm, về những sinh viên trẻ tài giỏi, năng nổ, lý tưởng. So với chính quyền, HT ĐCT làm sao so sánh được về lãnh thổ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, về tổ chức, về lãnh đạo, về quyền thế. Khi so sánh HT ĐCT với bất kỳ một tổ chức, đoàn thể nào thì HT có gì hơn? Vậy điều gì khiến cho HT có thể bày tỏ sự khôn ngoan của ĐCT? Chắc chắn không phải những điều thế gian này giàu có, coi trọng, kính nể. Trái lại là những điều xã hội, thế gian này khi dễ, xem thường. Nhưng chính những điều trái ngược lại với thế gian HT ĐCT trong hơn 2000 năm đã bày tỏ sự khôn ngoan của ĐCT, qua sự yếu đuối, tầm thường, qua tình yêu thương, sự tha thứ, qua trái TL.
Con đường thập giá, con đường hẹp ít người đi vì xem như ngu dại, nghịch lý dưới mắt người đời như lời PL viết: Chúng tôi là kẻ ngu dại vì cớ Đấng Christ, nhưng anh em được khôn ngoan trong Đấng Christ; chúng tôi yếu đuối, anh em mạnh mẽ; anh em quí trọng, chúng tôi khinh hèn. 11 Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần mình, bị người ta vả trên mặt, lưu lạc rày đây mai đó. 12Chúng tôi dùng chính tay mình làm việc khó nhọc; khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; 13 khi bị vu oan, chúng tôi khuyên dỗ; chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bả của loài người, cho đến ngày nay (1 Cô-rinh-tô 4:10-13)
Hôm nay hầu hết tín đồ đều muốn tìm một HT lý tưởng, một HT không hề đòi hỏi hy sinh, không hề đòi hỏi thay đổi gì trong suy nghĩ, thái độ, hành động. Chúng ta muốn Chúa hy sinh để ban phước cho chúng ta; muốn được phước khi đến HT sau một tuần lễ làm việc mệt nhọc; muốn anh chị em trong HT phải vui vẻ, cảm thông, hiểu biết. [Câu chuyện của MS Billy Graham và tín đồ tìm một HT toàn thiện]
Tôi xin được đọc vài đoạn viết về các tín đồ của HT đầu tiên từ những tài liệu viết bởi các sử gia, triết gia sống thời đó, hay do các tiên phụ HT:
Những người tin Chúa yêu thương mọi người và bị mọi người bắt bớ… khi bị chửi rủa, họ chúc phước; khi bị nhục mạ, họ tỏ sự kính trọng” (Thư của Mathetes cho Diognetus (cuối thế kỷ thứ 2)
Chính những người tin Chúa, thưa đại đế, là những người tìm kiếm và nhận được sự thật, vì họ xưng nhận ĐCT… Họ bày tỏ tình yêu với hàng xóm… Họ nói cách nhỏ nhẹ với những người thống chế họ, và qua cách đó khiến thù thành bạn. Ham muốn của họ là cư xử tốt với kẻ thù… Đây, thưa đại đế, là luật lệ của cuộc sống những người Cơ Đốc, và đây là cách họ sống (Aristides viết khoảng 137).
Đây là cách chúng ta sống: trước hết, anh chị em phải yêu kính ĐCT là Đấng tạo dựng ace; thứ hai, yêu thương người lân cận như chính mình; và trong tất cả mọi sự đừng làm điều gì mà ace không muốn người khác làm cho mình. Đây là những lời dạy: Chúc phước cho người rủa sả ace, cầu nguyện cho kẻ thù, nhịn ăn cho những kẻ bắt bớ bởi vì có gì đáng khen nếu ace chỉ yêu những người yêu mình. Không phải người ngoại của cùng làm như vậy hay sao? Nhưng ace phải yêu kẻ thù ghét mình, và sẽ không có kẻ thù. (Những lời dạy của 12 sứ đồ, tài liệu dạy của tín đồ viết khoản 80-90)
Người Cơ Đốc không khác gì với mọi người cùng một quốc gia, ngôn ngữ, phong tục… Họ sống trong quốc gia họ, nhưng như những người lữ hành. Họ chu tất mọi trách nhiệm công nhưng chịu khổ như dân kiều ngụ. Họ chọn quê hương nơi nào họ đến, nhưng quê hương thật của họ không là nơi trên đất… Họ sống trong xác thịt, nhưng không theo xác thịt. Họ sống trên đất này, nhưng là công dân của nước Trời. Họ vâng phục mọi luật pháp, nhưng sống cao những đòi hỏi của luật pháp. Họ yêu thương tất cả, nhưng tất cả lại bắt bớ họ.
HT đầu tiên của ĐCT hoàn toàn khác với suy nghĩ của tín đồ ngày nay. Sách CV được viết bởi bác sĩ Lu-ca, cũng là người viết PA Lu-ca, là một sách lịch sử duy nhất trong KTTU. CV ghi lại lịch sử của HT đầu tiên, những việc làm của các sứ đồ và tín đồ trong những năm tháng đầu tiên sau khi ĐTL được ban cho 120 tín đồ tại thành Giê-ru-sa-lem. Để hiểu hơn về HT đầu tiên, qv cần đọc sách CV.
Ngay từ những ngày đầu tiên, các sứ đồ và tín đồ HT Chúa đã gặp sự chống đối, bắt bớ, tù đày, giết hại bởi những thầy thông giáo và chính quyền La-mã. CV 5:18 cho biết: Bấy giờ thầy cả thượng phẩm và những kẻ theo người (ấy là phe Sa-đu-sê) đều đứng dậy, đầy lòng ghen tương, 18 bắt các sứ đồ bỏ vào khám công. Đoạn 7 cho biết về sự tử đạo đầu tiên của Ê-tiên, bị dân chúng ném đá cho đến chết. Chính PL là người không chỉ chứng kiến cảnh dân chúng ném đá Ê-tiên đến chết nhưng KT còn cho biết ông tán thành việc giết Ê-tiên.
Mấy câu KT tiếp trong CV 8 cho biết về sự bắt bớ đầu tiên với HT Chúa: Trong lúc ấy, hội thánh tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị bắt bớ dữ dội. Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri. 2 Nhưng có những người tin kính, an táng Sê-tiên và khóc thương ông rất nhiều. 3 Nhưng Sau-lơ phá hoại hội thánh, đi lùng từ nhà này qua nhà khác, bắt các tín hữu cả nam lẫn nữ và tống giam vào ngục. 4 Vậy những người di tản đi đến đâu cũng truyền giảng Phúc Âm. 5 Phi-líp xuống một thành phố miền Sa-ma-ri, truyền giảng Chúa Cứu Thế cho dân chúng. (8:1-5)
Điều gì đã xảy ra cho các sứ đồ và tín đồ HT đầu tiên? Bị bắt giam, bị bắt bớ dữ dội đến nỗi Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri. Dù vậy thì những người di tản đi đến đâu cũng truyền giảng Phúc Âm. Có nghĩa là TL, PA được truyền giảng từ những người lẽ ra phải than thân, trách phận, tại sao tôi tin Chúa mà Chúa lại để sự bắt bớ này xảy ra cho chúng tôi. Lần bắt bớ dữ dội này không phải là lần đầu tiên và cuối cùng. Đoạn 12 cho biết sứ đồ Gia-cơ, anh em của sứ đồ Giăng bị vua Herod chém đầu.
Nghị sĩ Tacitus, cũng là sử gia của đế quốc La-mã sống trong thời các sứ đồ viết về sự tra tấn đối với những người tin Chúa thời đại đến Nero: Sự chết của họ lại thêm vào sự chế diễu, nhục mạ. Mặc da thú, họ bị xé xác bởi chó dữ cho đến chết, hay bị đóng đinh trên những thập giá, hay bị đốt đến chết, hay bị đốt làm đuốc ban đêm. Nero dành riêng khu vườn của đại đế cho những cảnh thưởng ngoạn này, và trình diễn như màn trong đoàn xiếc khi hắn hòa với đám đông, mặc như người lái xe ngựa đua, hay đứng cách cao ngạo trên xe ngựa.
300 năm đầu tiên trong lịch sử đạo Chúa, người tin Chúa bị khinh khi, bắt bớ, tù đày, tra tấn, bị giết. Đến nỗi có câu là máu của những người tử đạo là hột giống của hội thánh. Nhưng một điều kỳ diệu xảy ra: vào năm 312 đại đế Constantine của đế quốc La-mã tin Chúa và tuyên bố từ nay đạo Chúa là quốc giáo của cả đế quốc.
Sau đây là lời của một vài tiên phụ của HT đầu tiên. Chúng tôi rất quen thuộc với chiến tranh, thảm sát, và mọi điều độc ác, nhưng tất cả chúng ta trong khắp các nơi đã đổi khí giới chiến đấu. Chúng tôi đổi những thanh gươm thành lưỡi cày, những ngọn giáo thành dụng cụ làm nông… và bây giờ chúng tôi trau dồi sự kính sợ ĐCT, công bình, nhân từ, đức tin, và hy vọng vào tương lai mà Đấng đã bị đóng đinh đã ban cho chúng tôi… Hễ chúng tôi càng bị bắt bớ, giết hại thì càng có nhiều người trở nên tin Chúa; Trước đây chúng tôi là những kẻ hay thù ghét, giết người giờ cùng sống với nhau và cùng ăn chung một bàn. Chúng tôi cầu nguyện cho kẻ thù và cố thuyết phục kẻ thù ghét chúng tôi. (Justin the Martyr 100-165) Những người tin Chúa (Christians), thay vì trang bị cho họ với vũ khí, lại giang tay ra trong sự cầu nguyện (Athanasius từ Alexandria – 293-373)
Mọi tín đồ đều nghe về trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:22). Tín đồ HT đây đều nghe mấy câu KT này: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành (Cô-lô-se 3:12-14). Đọc đến đoạn 4 của Ê-phê-sô, chúng ta sẽ nghe lời đạy của PL: Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, 2phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, 3 dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. (4:1-3)
Tôi xin liệt lại những tính hạnh PL dạy: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ, thương xót, khiêm nhường, nhịn nhục, nhường nhịn, tha thứ, gìn giữ sự hiệp một của TL. Tôi xin hỏi: làm thế nào để chúng ta có được những tính hạnh này? Một điều rõ là tất cả những tính hạnh này đều cần có sự giao tiếp với người, ít nhất là với một người. Không ai cần nhường nhịn, hiền lành, trung tín với chính mình cả. HT là nơi để tín đồ có thể tập tành, phát triển những tín hạnh qua sự giao tiếp, thông công, làm việc chung với các anh chị em trong Chúa. Chỉ qua sự giao tiếp đó chúng ta mới thấy rõ hơn về chính bản tính thật của mình: có mau hờn giận; có mau trách móc; có mau kiêu hảnh hay không? Và chỉ khi chúng ta nhìn thấy được và chấp nhận những thiếu sót, sai quấy thì mới có thể thay đổi. Người được Chúa cứu là người đầu tiên ý thức về tội lỗi trong đời sống, ăn năn và xin tha thứ. Cũng vậy, mọi người đều nói về trái TL, cầu nguyện cho trái TL, cho những phẩm tính giống Chúa, nhưng khi đối diện với thực tế trong vòng tín đồ HT thì lại buồn giận, hờn trách.
Nơi nào cần tình yêu thương? Nơi có sự thù ghét. Nơi nào cần sự tha thứ? Nơi có người phạm lỗi, phạm tội. Nơi nào cần có sự khiêm nhường? Nơi có sự kiêu ngạo. Qv có bao giờ nghĩ rằng ĐCT đặt qv trong những hoàn cảnh khó khăn để qv có thể thay đổi hay không?
[Câu chuyện về đám tang cho hội thánh]
KH là sách cuối cùng của KT. Sứ đồ Giăng bị đày ra một hòn đảo nhỏ gọi là Patmos khi đã cao tuổi, có lẽ khi 80-90 tuổi. Tại đó ĐCT khải thị cho ông để viết nên sách KH. Giăng viết: Vào ngày của Chúa, tôi được Thánh Linh cảm hóa, nghe sau lưng có tiếng lớn như tiếng kèn. 11 bảo: "Con hãy ghi chép vào một quyển sách những điều con thấy và gởi cho bảy Hội thánh: Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê." 12 Tôi xoay người lại xem tiếng nói đã bảo tôi. Vừa xoay lại, tôi thấy bảy giá đèn bằng vàng, 13 và giữa các giá đèn có ai giống như Con Người, mặc áo dài chấm chân, thắt đai vàng ngang ngực, 14 đầu và tóc Ngài trắng như lông chiên, trắng tựa tuyết, mắt Ngài sáng rực như ngọn lửa, 15 hai chân Ngài bóng loáng như đồng luyện trong lò và tiếng Ngài như tiếng nhiều dòng thác. 16 Tay phải Ngài cầm bảy vì sao, miệng Ngài hé lộ một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Mặt Ngài như mặt trời chiếu sáng rực rỡ. 17 Khi thấy Ngài, tôi ngã nhào xuống chân Ngài như đã chết, nhưng Ngài đặt tay phải Ngài trên tôi mà bảo: "Con đừng sợ! Ta là Đầu Tiên và Cuối cùng, 18 là Đấng hằng sống; Ta đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. 19 Vì thế, con hãy ghi chép những việc con đã thấy, những việc đang diễn tiến và những việc sẽ xảy ra sau này. 20 Đây là huyền nhiệm về bảy vì sao mà con đã thấy trong tay phải Ta và về bảy giá đèn bằng vàng: Bảy vì sao là các thiên sứ của bảy hội thánh và bảy giá đèn là bảy hội thánh đó. (KH 1:10-20 – BDM)
Ai là Con Người? ĐCJC. Chúa giải thích cho Giăng về huyền nhiệm về 7 vì sao và 7 giá đèn bằng vàng: 7 vì sao là thiên sứ của 7 HT, và 7 giá đèn là 7 HT đó. Từ đoạn 2 đến cuối đoạn 3 là 7 thư viết cho 7 HT. Câu 12-13 cho biết chính ĐCJC đi giữa các giá đèn, có nghĩa là đi giữa 7 HT. Nếu 7 HT này tiêu biểu cho toàn thể HT của ĐCT qua suốt các thời đại thì có nghĩa là chính ĐCJC hiện diện trong vòng HT của Ngài bên cạnh thiên sứ của mỗi HT trong suốt các thời đại, từ HT đầu tiên cho đến HT ngày nay và mãi cho đến Chúa trở lại. Chính vì sự bảo vệ của thiên sứ và sự hiện diện của ĐCT mà qua suốt hơn 2000 năm qua, HT của ĐCT vẫn tồn tại khi các đế quốc đều tan biến.
Cũng chú ý một chi tiết quan trọng là ĐCJC đi giữa 7 HT chân đèn, tức 7 HT khác biệt. Nhưng trong tay Chúa, Ngài nắm 7 ngôi sao, tức 7 thiên sứ. Có nghĩa là Đấng đi giữa các HT cũng chính là Đấng có quyền năng trên mọi thiên sứ. Điều này cũng giải thích ý của PL khi ông viết về huyền nhiệm HT ĐCT: Chúa dùng HT để bày tỏ mọi điều thông sáng, khôn ngoan cùng các thiên sứ.
Khi ĐCT ra lệnh cho Mô-se cất đền thờ tạm khi dân DT đi trong đồng vắng, Chúa bảo phải làm một cây đèn gồm 7 nhánh: "Làm một cái chân đèn bằng vàng dát; từ chân đèn đến thân, đài, bầu và hoa của đèn đều dính liền thành một khối. 32 Từ thân đèn mọc ra sáu cành, ba cành bên này và ba cành bên kia. (Xuất 25:31). Vậy 7 chân đèn tượng trưng cho 7 HT Chúa là ra từ dân tuyển ĐCT, như lời PL viết: Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. 29 Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa. (Ga-la-ti 3:28-29)
[Câu chuyện về MS Lê Ngọc Vinh sau khi bị tai biến máu não, liệt một bên, không nói được nhưng vẫn có một gương mặt sáng rực, không hề trách móc ĐCT -> tôi tin rằng bao nhiêu thiên sứ và ma quỉ đứng và kính phụ khi nhìn thấy thái đô, tính hạnh của MS trong cảnh ngộ đó.]
