Hội Thánh Dung Túng Tà Giáo – Bẹt-găm: Ngôi Ở Của Sa-tan
Cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi. Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; (2:13) [Hình về địa điểm 7 HT]
Trong thư đầu tiên gởi cho HT Ê-phê-sô, ĐCJC phán cùng HT Ta biết công việc ngươi. (Thư của 4 HT còn lại cho Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê, ĐCJC cũng phán Ta biết công việc ngươi) Trong thư thứ 2 cho HT Si-miệc-nơ, Chúa phán: Ta biết hoạn nạn, nghèo khó, vu cáo, hay Ta biết hoàn cảnh ngươi. Trong thư thứ 3 gởi HT Bẹt-găm, ĐCJC nói với HT Ta biết nơi ngươi ở. Thật không có bất cứ điều gì về HT nói riêng và con người nói chung mà ĐCJC lại không biết rõ cả.
[Đính chính về thành phố Si-miệc-nơ là thành phố duy nhất trong 7 thành phố vẫn còn tồn tại với tình trạng thịnh vượng]
Đến nay thì nhiều người VN có nghe hay biết về tiểu bang và thành phố của HT chúng ta. Nhưng xưa thì nói đến NM và Abq thì không mấy người Việt biết. Dĩ nhiên đọc tên và đánh vần chữ Abq cũng còn khó cho nhiều người. Nếu qv chú ý ở thành phố, tiểu bang này và hầu hết các nơi khác phía Nam HK, khi một người lái xe thấy một người đi bộ thì thường sẽ đưa tay lên để chào. Nhưng sang các thành phố phía đông HK như Boston, NY, DC thì điều này hiếm thấy. Nói chung thì dân cư miền Nam HK cởi mở hơn dân sống trong các thành phố lớn. Đất chật, đời sống tất bật, đi bộ trên đường không ai nhìn đến ai; khi lên xe điện, mỗi người cũng chỉ chú tâm vào việc riêng của mình.
Nơi ở ảnh hưởng trực tiếp đến cá tính, suy nghĩ và lối sống của con người.
Thành phố Bẹt-găm nằm ở phía Bắc của thành Si-miệc-na khoảng 60 miles và khoảng cách biển khoảng 15 miles. Từ xa người ta cũng có thể nhìn thấy thành lũy kiên cố, các đền thờ vĩ đạo cất trên một ngọn đồi cao 1500 ft [hình] Vào thế kỷ thứ nhất B. là một trung tâm chính trị, kinh tế, trí thức. Thư viện B. gồm 200K quyển sách, sau đó được chuyển đến thư viện lớn nhất thời bấy giờ tại thành phố Alexandria xứ Ai Cập khi tướng Anthony làm tặng phẩm cho tình nhân Cleopatra. Không những là một thành phố lớn, quan trọng trong vùng Tiểu Á về chính trị, kinh tế, tri thức nhưng B còn là một trung tâm tôn giáo nổi tiếng của đạo thờ lạy đại đế La-mã, của thần Zeus và đặc biệt hơn hết là thần Asclepius, thần chửa bệnh.
ĐCJC gọi B. là ngôi của quỉ Sa-tan. Câu này được giải thích theo mấy nghĩa sau. Gọi là ngôi của quỉ Sa-tan vì đây là trung tâm của việc thờ lại đại đế La-mã của cả vùng Tiểu Á. Trong bài giảng trước về thành phố Si-miệc-nơ, tôi giải thích đây là thành phố hãnh diện về đền thờ nữ thần La-mã đầu tiên (195BC) và đến năm 26 AD được chọn từ 10 thành phố để xây đền thờ đại đế Tiberias. Nhưng Bẹt-găm là trung tâm của đạo thờ đại đế trong cả vùng Tiểu Á (center of the imperial cult for all of the province of Asia) Đây là thành phố đầu tiên trong vùng Tiểu Á được vinh dự xây đền thờ của đại đế Augustus. Sau đó lại thêm vinh dự lần thứ 2 để xây đền thờ của đại đế Trajan.
Vì 2 đền thờ của 2 đại đế La-mã nên việc thờ lạy đại đế là điều bắt buộc mọi dân cư sinh sống trong thành đều phải tuân thủ. Bằng không sẽ nhận lấy hậu quả của việc từ chối thờ lạy đại đế La-mã. Nhẹ là bị kỳ thị, xa lánh; nặng hơn là mất việc, mất tài sản; nặng hơn nữa la mất quyền công dân hay bị tù đày, đánh đập, tra tấn và thậm chí mất cả mạng sống như một tín đồ HT Bẹt-găm tên An-ti-ba.
Gọi là ngôi của Sa-tan cũng vì là nơi có nhiều đền thờ của các thần: 1) thần Serapis của Ai Cập,là chúa của âm phủ; 2) thần Athena - thần chiến tranh, thắng lợi và là bảo hộ của thành phố B.; 3) thần Dionysus hay còn gọi là Bacchus – thần của rượu và của sự hưởng thục, khoái lạc, đây là thần của các ông lớn tuổi từ HK về VN!
Vĩ đại hơn hết là đền thờ thần Zeus là vua của tất cả các thần Hy-lạp, được gọi là thần cứu tinh (savior-god) tại thành phố, và bàn thờ lớn của thành phố B. cho thần Zeus & Athena. Di tích của bàn thờ lớn này được một kỷ sư Đức khám phá vào năm 1878 và hiện nay mô hình của bàn thờ này được trưng bày tại một viện bảo tàng thuộc thành phố Bá-linh (Berlin). Quả thật khi nhìn mô hình của bàn thờ chúng ta có thể hiểu được một phần ý nghĩa của lời ĐCJC gọi về ngôi của Sa-tan.
Nhưng gọi là ngôi của Sa-tan cũng có thể là vì đền thờ Asklepios của thần Asclepius (Aesculapius), trung tâm của thần chửa bệnh của cả vùng Tiểu Á và nổi tiếng trong cả đế quốc La-mã thời bấy giờ. Biểu tượng của thần Asclepius, thần chửa bệnh là con rắn quấn quanh cây trượng. Mãi đến nay thì biểu tượng của y khoa vẫn còn là cây trượng với 2 cánh của thần Hermes với 2 con rắn quấn quanh trượng.
Hôm nay ý nghĩa của biểu tượng về con rắng quấn quanh cây trượng không còn mang ý nghĩa như ngày xưa tại thành B. khi dân chúng thờ phượng thần Aesculapius, thần chửa bệnh. Nhưng trong thời đó việc thờ lạy một vị thần tay cầm trượng với con rắn lớn quấn quanh dưới mắt tín đồ HT B. là thờ lạy Sa-tan. Bởi vì Sa-tan hiện ra trong hình con rắn để cám dỗ E-va ăn trái cấm khi tổ phụ loài người là A-đam và E-va còn trong vườn địa đàng Ê-đen. KH cũng gọi Sa-tan là con rắn xưa, là ma quỉ, là Sa-tan (20:2)
TỪ THIÊN SỨ TRỞ NÊN ÁC QUỈ
Hầu hết qv đều biết Sa-tan là gì. Tuy nhiên vì có 1 số qv đây có thể chưa bao giờ nghe đến nên tôi xin được giải thích vắn tắt về Sa-tan. Sa-tan là một thiên sứ sáng láng, xinh đẹp, quyền năng vì lòng kiêu ngạo, muốn trở nên như ĐCT nên bị Chúa sa thải khỏi thiên đàng.
KT viết về Sa-tan trong cả CU và TU và gọi nó với nhiều tên khác nhau. Sa-tan được viết trong 7 sách của KTCU. Mỗi tác giả của các sách trong KTTU đều viết về Sa-tan. Trong 4 sách PA, Sa-tan được đề cập ít nhất 29 lần, và một điều ngạc nhiên hơn hết là trong 29 lần đó thì chính ĐCJC nói về Sa-tan trong 25 lần! Sách KH có 8 lần trong 7 câu nói về Sa-tan (2:9, 13, 24; 3:9; 12:9, 20:2, 7). 4 lần chính ĐCJC trong thư gởi 4 HT: Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, và Phi-la-đen-phi đề cập đến Sa-tan. Nếu chính Chúa Jesus đã nói về Sa-tan khi dạy dỗ các môn đồ trong 3 năm trên đất và sau đó cho các thư gởi cho các HT, thì điều này xác nhận nó là một nhân vật thật và nguy hiểm mà mọi tín đồ đều phải đề phòng.
Sa-tan không phải là một danh xưng hay tên như John, Peter, nhưng là một danh từ thường được dùng với hai ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất được dùng thường hơn hết trong CU là kẻ nghịch, kẻ chống đối, cừu địch (adversary, opponent).
Nghĩa thứ hai được dùng trong CU bên cạnh kẻ nghịch, kẻ chống đối là kẻ lên án, kẻ buộc tội, tố cáo (như luật sư buộc tội), như những kẻ tự xưng mình là người Giu-đa nhưng thuộc về hội quỉ Sa-tan cũng vu cáo tín đồ HT Si-miệc-nơ. Sa-tan buộc tội Gióp tin Chúa vì Chúa ban nhiều ơn phước cho ông. Nó cũng buộc tội những người tin Chúa trước ĐCT vì tội lỗi đã, đang và sẽ phạm.
Một nhà giải kinh viết thế này về Sa-tan: Sa-tan nói dối với chúng ta khi nói với chúng ta về ĐCT, nhưng nó nói thật với ĐCT về chúng ta. Có nghĩa là Sa-tan không muốn cho chúng ta tin Chúa, đặt trọn đời sống vào Chúa nên nói dối với chúng ta về ĐCT. Nhưng khi nó với Chúa về chúng ta thì nó nói một sự thật là mọi người đều phạm tội.
Gốc Tích Của Sa-Tan
KTCU có 2 đoạn KT thường được một số đông người giải kinh thánh, các nhà thần học xem như lời giải thích về sự sa ngã và tội phạm của Sa-tan cùng ĐCT. 2 đoạn KT đó trong sách Ê-xê-chiên 28:11-19 và Ê-sai 14:12-19. Trước hết tôi muốn giải thích rằng cả hai đoạn KT này được viết về hai vị vua trong lịch sử: Ê-xê-chiên viết về vua xứ Ty-rơ và Ê-sai về vua xứ Ba-by-lôn. Nhưng cũng về Sa-tan.
Ê-xê-chiên 28:11-15 viết về Sa-tan khi mới được sáng tạo, trước khi phạm tội sa ngã khỏi thiên đàng: “Ngươi là một mẫu người toàn hảo, Ðầy khôn ngoan và đẹp đẽ hoàn toàn. 13 Ngươi đã ở trong Ê-đen, vườn của Ðức Chúa Trời; Áo của ngươi gắn đầy ngọc quý: hồng bửu ngọc, hoàng bích ngọc, kim cương,[b] lục bích ngọc, bạch bảo ngọc, lục bửu ngọc, lam bảo ngọc, lam lục ngọc, và lam bích ngọc; Các trống lục lạc và các ống sáo của ngươi đều được khảm vàng; Tất cả đều sẵn sàng trong ngày ngươi được tạo nên. 14 Ta đã xức dầu lập ngươi làm một chê-rúp để hộ vệ; Ta cho ngươi được ở trên núi thánh của Ðức Chúa Trời; Ngươi được đi lại giữa những tảng đá rực lửa. 15 Ngày ngươi mới được tạo nên, các đường lối của ngươi thật là toàn hảo, (BD2011)
Sa-tan là một thiên sứ toàn hảo, đầy khôn ngoan, hoàn toàn đẹp đẽ. Trang phục của nó đầy những đồ quí giá, đẹp đẽ vô cùng. Cả những nhạc cụ cũng đều khảm bằng vàng, nói lên sự tuyệt mỹ trong những dụng cụ dùng. Và cũng để nói về tài năng âm nhạc ĐCT ban cho nó. Sa-tan là một chê-rúp hay chê-ru-bim, một hạng thiên sứ cao trọng hơn hết. Chê-rúp được ĐCT dùng để bảo vệ vườn địa đàng Ê-đen với gươm lửa (STK 3:24).
Phần kế của đoạn KT này giải thích về lý do của sự phạm tội và sa ngã của Sa-tan: Cho đến khi tội lỗi xuất hiện trong ngươi. 16 Nhờ việc thương mại phát đạt, ngươi trở nên hung tàn bạo ngược, và ngươi đã phạm tội; Vì thế Ta đã quăng ngươi ra khỏi núi của Ðức Chúa Trời như đồ ô uế. Hỡi chê-rúp hộ vệ, Ta đuổi ngươi ra khỏi giữa những tảng đá rực lửa. 17 Lòng ngươi kiêu ngạo vì vẻ đẹp của ngươi, Ðể được tráng lệ ngươi đã làm hỏng sự khôn ngoan của ngươi. Ta quăng ngươi xuống đất, (Ê-xê-chiên 28:15-17)
Tại sao Sa-tan phạm tội? Vì lòng kiêu ngạo: kiêu ngạo về sự đẹp đẻ, về sự khôn ngoan, về quyền chức cao trọng. Chính vì lời dạy này về Sa-tan mà người tin Chúa cần hiểu rất rõ về sự nguy hiểm của sắc đẹp, thành công, địa vị, quyền lực. Vì những điều này sẽ đưa đến sự kiêu ngạo. Và không tội gì nguy hiểm, đáng sợ hơn kiêu ngạo.
Vì lòng kiêu ngạo mà Sa-tan từ một thiên sứ cao trọng hơn các hạng thiên sứ khác, đẹp đẻ, tài giỏi, được gần ĐCT trở nên một ác quỉ thủ đoạn, dối trá, lừa đảo, độc ác. Có lẽ hiểu rõ điều này nên Gia-cơ viết cảnh cáo tín đồ: Vì vậy, Kinh Thánh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. (4:6)
Hậu quả là ĐCT đuổi Sa-tan ra khỏi thiên đàng và quăng nó xuống đất, tức địa cầu này. Bị đuổi khỏi thiên đàng, từ đó nó tìm mọi cách thức để làm cho loài người nghi ngờ rồi từ chối quyền làm chủ của Chúa trong đời sống. Qv cũng nhớ nó làm cho A-đam & E-va bị đuổi khỏi vườn địa đàng.
Đoạn KT theo Ê-sai 14:12-19 viết về vua Ba-by-lôn. Trong một bài giảng trước đây tôi có giải thích khi viết về Ba-by-lôn, KT không chỉ nói về một thành phố hay một đế quốc nhưng còn tượng trưng cho một lực lượng đối nghịch cùng ĐCT, tượng trưng cho thế giới tội lỗi nghịch lại với tiêu chuẩn thánh khiết của Chúa. Vậy không có gì ngạc nhiên cho lắm khi Ê-sai qua sự khải thị của ĐTL dùng hình ảnh của vua Ba-by-lôn để nói về Sa-tan luôn luôn đối nghịch cùng ĐCT và là chúa của thế giới đầy tội lỗi này.
Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! 13 Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. 14 Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao. (14:12-14)
Từ sao mai là Lu-xi-phe, một danh xưng có nghĩa là người mang ánh sáng (light bearer) hay sao mai. Sa-tan được ví như sao mai, con trai của rạng đông đầy ánh sáng. Mục đích của sao mai và rạng đông là đem đến ánh sáng cho cả ban đêm và ban ngày. Trước khi phạm tội, sa ngã, Sa-tan là một thiên sứ vô cùng sáng láng, được ĐCT tạo để đem lại ánh sáng, lẽ thật, công chính, yêu thương, nhân từ, đem đến sự thánh khiết, toàn hảo của ĐCT. Nhưng ánh sáng của lẽ thật, công chính trở nên quyền lực tối tăm, lừa dối, độc ác.
Tại sao Sa-tan phạm tội? Vì kiêu hảnh. Nó muốn làm cho mình bằng Đấng Tối Cao. Trong đoạn KT này 5 lần sao mai, con trai của rạng đông tuyên bố: Ta sẽ. Câu 13: Ta sẽ lên trời, Ta sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời, Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. Câu 14: Ta sẽ lên trên cao những đám mây, Ta sẽ làm ra mình bằng Đấng Rất Cao.
Bản dịch mới dùng từ giống như trong câu 14. Nó không muốn giống như ĐCT để nên thánh khiết, công bình, yêu thương, nhân từ. Nhưng trở nên ĐCT, ngang hàng cùng ĐCT. Nói cách khác Sa-tan muốn là ĐCT nhưng không muốn giống Chúa. Phải chăng đây là điều con người luôn muốn đạt được: làm chúa tể mọi người, làm chủ muôn vật theo ý riêng, cách thức riêng của mình chứ không theo lời ĐCT dạy. Qv hỏi tại sao có chiến tranh triền miên trên thế giới này? Đoạn KT này giải thích: Bởi vì Sa-tan cám dỗ, lừa gạt để con người trở nên chúa tể cũng như nó đã muốn trở nên ĐCT.
Hậu quả của lòng kiêu ngạo, của tham vọng thành chúa tể là gì? Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! (Ê-sai 14:15) KH cũng xác nhận rõ sự trừng phạt này: Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. 2 Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm. 3 Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa… Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. (KH 20:1-3, 10)
Bài học quan trọng có thể rút ra được từ sự phạm tội và sa ngã của Sa-tan: lòng kiêu ngạo sẽ đem con người xuống địa ngục. KT dạy: vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường. 6 Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên (1 Phi-e-rơ 5:5-6)
Thủ Đoạn của Sa-tan
KTTU viết rất nhiều về Sa-tan. Sa-tan cám dỗ ĐCJC 40 ngày và đêm trong đồng vắng. Qua sự cám dỗ nó nói với Chúa nếu sấp mình trước mặt mà thờ lạy thì nó sẽ cho mọi vinh hiển của các nước thế gian này. ĐCJC cũng phán cùng các môn đồ: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp. (Lu-ca 10:18) Nghĩa là ĐCJC đã có từ trước vô cùng và đã chứng kiến sự sa ngã của Sa-tan từ thiên sứ sáng láng trở nên ác quỉ luôn luôn đối nghịch cùng ĐCT và tìm đủ mọi cách để kéo loài người sa ngã như chính nó.
ĐCJC gọi Sa-tan là chúa của thế gian này hay kẻ cai trị thế gian này: Bây giờ là lúc thế gian nầy bị phán xét; bây giờ kẻ cai trị thế gian nầy sẽ bị tống ra ngoài. (Giăng 12:31 – BD2011). Có nghĩa là nó có quyền hành và chủ lực trên thế gian này để chi phối, thay đổi, gây rối loạn hay làm cho bình an tình huống trong thế gian này. Vì vậy nó mới có thể đưa ĐCJC lên nơi cao để chỉ cho thấy vinh quang của thế gian này và nói với Chúa nếu quì lạy thì nó sẽ cho Chúa thế gian này. Nếu
Nhiều câu chuyện trong 4 sách PA nói về ma quỉ nhập và chiếm hữu con người làm cho họ điên cuồng. KT cũng giải thích rằng chính Sa-tan nhập vào Judas Iscariot khi hắn ra khỏi phòng cao khi Chúa dự lễ Vượt Qua cùng các môn đồ để đem binh lính đến bắt Chúa trong vườn Ghết-sê-ma-nê.
PL gọi Sa-tan là chúa của đời này làm mù mắt của lòng người khiến họ không tin Chúa: Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, 4 cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 4:4). ĐCJC cũng giải thích ý này trong ngụ ngôn 4 hột giống: hột nơi trên đường bị chim ăn mất trước khi mọc rễ là hột giống TL bị ma quỉ cướp lấy đi.
Cũng chính Sa-tan là ác linh làm việc trong lòng của những người không tin kính Chúa: Về phần anh chị em đã chết vì vi phạm và tội ác mình, 2 sinh hoạt theo đường lối của đời này, vâng phục chủ quyền thống trị trên không trung, là tà linh đang hoạt động trong con cái bội nghịch Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:1-2 – BDM)
Trong thư viết cho hội thánh Cô-rinh-tô khi nói về các giáo sư, thầy dạy giả mạo, PL viết: Vì những người như thế là sứ đồ giả, là công nhân gian dối, là kẻ ngụy trang làm sứ đồ của Chúa Cứu Thế. 14 Điều này không lạ gì! Chính quỷ Sa-tan cũng thường ngụy trang thành thiên sứ sáng láng. 15 Thế thì các tôi tớ nó ngụy trang thành tôi tớ của sự công chính cũng đâu có gì lạ, kết cuộc họ sẽ lãnh đầy đủ hậu quả những điều họ làm. (2 Cô-rinh-tô 11:13-15 - BDM)
PL giải thích rằng nó thường ngụy trang thành thiên sứ sáng láng để lừa dối, cám dỗ con người. Nên những người nó dùng cũng giả trang làm các sứ đồ, người làm việc cho Chúa để lừa dối tín hữu trong hội thánh. Lời dạy của PL cũng nói lên thủ đoạn đáng sợ của Sa-tan là thay đổi, móp méo lời Chúa để làm cho người tin Chúa sa ngã. HT B. là nạn nhân của thủ đoạn này khi HT dung túng tà giáo, những lời dạy sai lầm khiến con dân Chúa phải phạm tội.
Giới Hạn của Sa-tan
Có hai điều quan trọng cần ghi nhớ khi nói rằng Sa-tan là thiên sứ được ĐCT sáng tạo.
1. Vì Sa-tan là loài được sáng tạo nên nó không ngang hàng, đồng sức với ĐCT
Sa-tan là một thiên sứ, nhưng là một thiên sứ sa ngã, phạm tội, dù khi được ĐCT sáng tạo hoàn thiện từ lúc đầu. Tôi muốn nhấn mạnh điểm quan trọng này: Sa-tan không phải ngang hàng với ĐCT như giữa hai lực lượng ngang hàng trong một cuộc chiến tranh. ĐCT là Đấng sáng tạo ra Sa-tan và ĐCT có quyền hành trên mọi hoạt động của nó. Không có việc gì Sa-tan và ma quỉ của nó mà ĐCT lại không biết và ngạc nhiên.
Trong cuộc chiến tâm linh dù nói rằng Sa-tan và ma quỉ của nó là kẻ thù nghịch chính thì không có nghĩa là nó đồng sức với ĐCT. Sa-tan và ma quỉ luôn luôn ở dưới quyền tể trị của ĐCT. Chúng ta có thể dùng ví dụ này: Sa-tan như một con chó dưới sự kiểm soát của một người chủ. Nó không thể làm bất cứ điều gì, ở đâu, với ai mà ĐCT lại không biết hay cho phép.
Đây là một điều động viên, an ủi rất lớn cho người tin Chúa bởi vì chúng ta biết chắc rằng mọi thủ đoạn, tai hại chủ ý bởi Sa-tan và ma quỉ đều không thể chạm đến con cái ĐCT nếu Chúa không cho phép.
KT cũng cho biết rất rõ về kết quả của cuộc chiến tâm linh: Sa-tan và ma quỉ của nó sẽ bị ĐCT trừng phạt đời đời trong địa ngục cùng với những người từ chối sự cứu chuộc tội và quyền làm chủ của ĐCJC.
2. Vì là loài được sáng tạo nên Sa-tan có những giới hạn
Vì là thiên sứ nên Sa-tan có những quyền năng trên loài người. KT cho biết nó có thể làm phép lạ để lừa gạt con người. Trong sách Giu-đe KT viết ngay cả thiên sứ trưởng của ĐCT là Mi-chen cũng không dám xem thường nó, như những kẻ không sợ trời đất, khinh dễ thẩm quyền và báng bổ thần thánh: Vả, khi chính mình thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỉ giành xác Môi-se, còn chẳng dám lấy lời nhiếc móc mà đoán phạt; người chỉ nói rằng: Cầu Chúa phạt ngươi! (Giu-đe 1:9) Vì vậy những người không thuộc về Chúa chắc chắn sẽ là nạn nhân của nó vì quyền phép của nó hết sức mạnh mẽ, đáng sợ.
Nhưng cám ơn Chúa vì không những Chúa có toàn quyền tể trị trên Sa-tan và ma quỉ, Ngài còn hạn chế quyền phép, khả năng của nó. Sa-tan và ma quỉ không như ĐCT: nó không toàn năng (có thể làm tất cả mọi điều), toàn tri hay toàn thức (omniscience – biết tất cả mọi việc), bất tại (omnipresence - ở tất cả mọi nơi cùng một lúc).
ĐIỀU CHÚA KHEN HỘI THÁNH BẸT-GĂM
Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở.
B. là ngôi của Sa-tan. Tại thành phố B., ma quỉ cai trị dù dưới mắt trần của con người, chính quyền La-mã cai trị. Thời đó thanh gươm là biểu tượng của sức mạnh, quyền cai trị. La-mã cai trị dân chúng bằng thanh gươm sắc bén. Nhưng cánh tay vô hình điều khiển, chi phối thanh gươm La-mã chính là Sa-tan. KT dạy dù chúng ta sống trong thế giới vật chất nhưng cuộc chiến của người tin Chúa là cuộc chiến tâm linh, vô hình nhưng rất thật: Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy. (Ê-phê-sô 6:12).
Kẻ thù chính của Sa-tan là ĐCT và dân sự Chúa. Tín đồ HT là kẻ thù của Sa-tan. Nó sẽ tìm đủ mọi cách thức, thủ đoạn để làm cho người ta không tin Chúa và nếu đã tin Chúa rồi thì sẽ bỏ Chúa, xa Chúa, phạm tội cùng Chúa. Sa-tan dùng thanh gươm của La-mã để làm cho người ta sợ không tin Chúa hay sợ không trung tín với Chúa. Hoạn nạn, khốn khó, bắt bớ, tù đày, thậm chí sự chết dành cho tín đồ từ chối thờ lạy đại đế, từ chối rải hương trước hình Caesar và tung hô Caesar là Chúa, khi tín đồ không chịu chối ĐCJC là Chúa. Sa-tan dùng thanh gươm này của đế quốc La-mã để hại HT Si-miệc-nơ và Bẹt-găm.
Với HT Si-miệc-na là hoạn nạn, nghèo khó, vu cáo, bắt bớ, tù đày. Với HT B., thậm chí mất cả mạng sống: Ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở.
Khi đọc câu KT này chúng ta cần phải dừng lại để nghĩ về sự can đảm, lòng hy sinh tận trung của các tín đồ HT B. Họ sẵn sàng trả giá đắt, dù với chính mạng sống mà không chối ĐCJC. Từ vững lòng tôn danh ta (BTT) hay giữ vững danh ta (BDM & BD2011) là nắm chặt, cùng một động từ dùng để nói về ĐCJC là Đấng nắm chặt trong tay 7 ngôi sao tượng trưng cho 7 thiên sứ của 7 HT. Nếu Chúa nắm trong tay thì không ai có thể cất lấy khỏi Ngài.
ĐCJC khen HT B. là họ nắm giữ danh Chúa thật chặt đến nỗi không ai có thể bắt họ phải bỏ danh đó, cho dù hoạn nạn, bắt bớ, tù đày thậm chí sự chết. ĐCJC khen HT B. về sự can đảm và lòng trung tín của họ cho dù phải chứng kiến cái chết của một tín đồ trong HT tên An-ti-ba vì từ chối xưng Caesar là chúa, từ chối quì lạy và rải hương trong đền thờ đại đế Trajan, vì không chịu chối ĐCJC là Chúa.
Theo truyền thống thì An-ti-ba vì từ chối không thờ lạy và đốt hương cho đại đế La-mã nên đã bị bỏ vào một con bò đúc bằng bạc và đốt cho đến chết. Chúng ta không biết điều này có xảy ra hay không. Nhưng có thể hơn là việc xử tử An-ti-ba xảy ra tại thí viện ngoài trời trước sự chứng kiến, hò reo của hàng chục ngàn người dân trong thành phố. Đây là cách vẫn còn được dùng bởi bọn khủng bố hồi giáo như ISIS hay Taliban, và tại một vài quốc gia hồi giáo.
Nếu qv là tín đồ HT B. lúc bấy giờ khi chứng kiến cái chết đau đớn của An-ti-ba, khi nghe tiếng la thét chống đối lên án xử chết của dân chúng trong thành, thì điều này có làm lung lay đức tin trong Chúa của qv hay không? Tín đồ thời đó trả giá đắt cho niềm tin trong Chúa khi phải công khai xưng nhận niềm tin đó với người ngoại, nhẹ là bị chế diễu, chê cười, nặng hơn có thể bị gia đình ruồng bỏ hay bị mất việc làm, bị kỳ thị, nặng hơn nữa là mất cả tính mạng, như An-ti-ba.
ĐCJC dạy các môn đồ: Ta nói cùng các ngươi, ai sẽ xưng ta trước mặt thiên hạ, thì Con người cũng sẽ xưng họ trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời. 9 Nhưng ai chối ta trước mặt thiên hạ, thì họ sẽ bị chối trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời. (Lu-ca 12:8-9) PL cũng dạy nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta (2 Ti-mô-thê 2:12)
Một câu chuyện trong KTCU trong 2 Sa-mu-ên 24 nhắc chúng ta về nguyên tắc là khi thờ phượng Chúa chúng ta phải chấp nhận tốn kém. Tiên tri Gát nói với vua Đa-vít đi đến sân đạp lúa của một người tên A-rau-na, người Giê-bu và dựng một bàn thờ tại đó để xin Chúa ngừng tai dịch đang giết hại dân sự. Vua đến gặp A-rau-na để hỏi mua miếng đất đó. "Ta đến mua sân đạp lúa của ngươi. Ta phải dựng bàn thờ lên tại đây để thờ CHÚA và để cho bệnh dịch này ngưng, không hủy diệt dân chúng nữa.” (2 Sam 24:21). A-rau-na không bán nhưng bảo sẽ dâng đất và toàn của lễ thiêu gồm cả bò, bàn đạp lúa và ách bò để làm củi. Nhưng Đa-vít trả lời: Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi [không mất tiền mua – BDM]. Vậy, Đa-vít mua sân đạp lúa và bò giá năm mươi siếc-lơ bạc [16 lượng bạc – BDM)]. (2 Sa-mu-ên 24:24)
Đa-vít có thể lấy miếng đất đó, lấy cả của thiêu và củi của A-rau-na. Nhưng ông từ chối làm điều này. Với Đa-vít ông không thể lấy của người khác để dâng cho Chúa và gọi là của dâng của mình. Chúng ta có thể nói với vua 16 lượng bạc có đáng gì nên rất dễ cho vua. Đúng là dễ cho vua dâng 16 lượng bạc. Nhưng còn dễ hơn cho vua là lấy tiền của của A-rau-na để dâng cho Chúa. Nguyên tắc và bài học quan trọng ở đây không phải là số bạc nhưng là chúng ta có chịu tốn kém, có chịu mất mát gì khi thờ phượng ĐCT hay không?
Một điều đáng buồn là ngày nay nhiều tín đồ nghĩ lầm rằng khi tin Chúa họ không cần phải hy sinh điều gì, không phải tốn họ gì cả, dù là danh dự, tiếng tăm, việc làm, hay thời gian, công sức, tài chánh. Họ nghĩ rằng đến với Chúa sẽ được thêm thay. Nếu có mất mát, nếu phải tốn kém, nếu có sự đòi hỏi thì không đúng rồi.
ĐIỀU CHÚA TRÁCH HỘI THÁNH BẸT-GĂM
Nhưng ta có điều quở trách ngươi; vì tại đó, ngươi có kẻ theo đạo Ba-la-am, người ấy dạy Ba-lác đặt hòn đá ngăn trở trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn. 15 Ngươi lại cũng có những kẻ theo đạo Ni-cô-la. (KH 2:14-15)
Từ đạo trong câu 14-15 của BTT không phải là tôn giáo nhưng là lời dạy. BDM là giáo huấn hay lời dạy, hay sự dạy dỗ trong BD2011 và BHĐ (hiệu đính). Điều ĐCT trách HT B. là dù tín đồ HT không chối danh Chúa, dù vẫn giữ trọn niềm tin vào ĐCJC, vào sự cứu rỗi, giữ lời Chúa dạy, nhưng họ lại dung túng tà giáo, tức những dạy dỗ sai lầm.
Trong thư đầu gởi HT Ê-phê-sô, ĐCJC khen HT ghét lời dạy của những người Ni-cô-la. Những người này là ai? Họ làm gì, dạy gì mà Chúa ghét? Một giả thuyết dựa theo lịch sử HT thì nhóm người Ni-cô-la này là những người theo chấp sự Ni-cô-la, là 1 trong 7 chấp sự được chọn để hầu bàn trong CV 6, sau này dạy những điều rất sai lời Chúa. 7 người chấp sự đó có tên là: Ê-tiên, là người đầy đức tin và Đức Thánh Linh, Phi-líp, Bô-cô-rơ, Ni-ca-no, Ti-môn, Ba-mê-na và Ni-cô-la, là người An-ti-ốt mới theo đạo Giu-đa. Một giả thuyết khác là từ Ni-cô-la là một từ ghép gồm 2 từ nikaõ và laos, có nghĩa là kẻ chinh phục, thống trị người. Đây là những người chủ trương áp đặt thẩm quyền của người lãnh đạo trên dân sự HT lấy đi mọi sự tự do trong Chúa.
Cách giải thích hợp lý hơn là nhóm người này liên quan trực tiếp đến Ba-lam trong thư gởi HT Bẹt-găm (2:14-15). Ba-lam là một nhân vật viết trong Dân Số Ký 31:16 dụ dỗ dân Chúa phạm tội thờ hình tượng và tội tà dâm. Tên Ba-lam cũng là một từ ghép tiếng Hebrews am – dân sự, và baal – hủy diệt, nuốt sống. Khi vua Ba-lát của xứ Mô-áp biết không thể thắng được dân sự Chúa nên hắn thuê Ba-lam, một tiên tri Chúa, rủa sả dân sự Chúa; tuy nhiên khi Ba-lam mở miệng để rủa sả dân Chúa thì lại ra lời chúc phước. Khi thấy không thể rủa sả dân Chúa, Ba-lam khuyên vua Ba-lát dùng lễ cúng các thần xứ Mô-áp, gồm việc ăn uống các của cúng và sự tà dâm mà làm cho dân sự phạm tội. Kìa, ấy là chúng nó theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên cúng thờ Phê-ô, và phạm một tội trọng cùng Đức Giê-hô-va; và tội đó xui cho hội chúng của Đức Giê-hô-va bị tai vạ (DSK 31:16).
2 thư trong KTTU cũng viết về Ba-la-am như người khiến cho người theo Chúa phạm tội: Chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình (2 Phi-e-rơ 2:15) và Khốn nạn thay cho chúng nó, vì đã theo đường của Ca-in, lấy lòng tham lợi mà gieo mình vào sự sai lạc của Ba-la-am; và bị hư mất về sự phản nghịch của Cô-rê. (Giu-đe 1:11)
Trong bài giảng trước về thư gởi HT Si-miệc-nơ tôi có giải thích về việc đổi thần của chính quyền La-mã khi chinh phục một quốc gia hay vùng đất mới. Họ sẽ thờ thần của quốc gia đó và dân xứ đó cũng sẽ thờ thần họ. Tội của Ba-la-am với dân sự Chúa ngày xưa là khuyến khích họ dù thờ phượng ĐGHV nhưng cũng cúng thờ thần xứ Mô-áp là Phê-ô. Và khi cúng thờ thần xứ Mô-áp thì họ ăn của cúng và lấy người theo thần đó. Không bỏ Chúa, không chối Chúa nhưng cũng thờ cúng thần khác. Tín đồ HT B. không chối Chúa dù phải chịu khổ, chịu nạn, chịu chết. Nhưng nếu không dụ được tín đồ bỏ Chúa thì dụ họ thêm chúa, thêm thần. Đây là lý do mà điều răn đầu tiên trong 10 điều răn của ĐCT cùng dân sự Ngài là: Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác. (Xuất 20:3).
Hai điều ĐCJC trách HT B. khi họ nghe theo lời dạy Ba-la-am và Ni-cô-la: đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn. Một số học giả KT giải thích câu làm điều dâm loạn như nghĩa bóng nói về việc thờ các tà thần như ĐCT gọi dân sự Chúa khi họ theo các tà thần khác là làm điều dâm loạn. Nhưng nếu việc ăn thịt cúng thần tượng là thật sự ăn thịt thì việc phạm điều dâm loạn cũng có nghĩa là ăn ở luông tuồng ngoài vòng hôn nhân giữa chồng và vợ. Ngày xưa khỏi cần phải phụ chú khi nói đến chồng vợ là hàm ý nam và nữ nhưng nay phải nói rõ là chồng, nam và vợ, nữ.
Điều đầu tiên Chúa trách họ là việc ăn thịt cúng thần tượng. Tại thành phố B. cũng như hầu hết các thành phố lớn vùng Tiểu Á thời bấy giờ, hầu hết các thịt bán ngoài chợ hay thết đãi tại các buổi tiệc đều là thịt cúng đại đế hay cúng các thần. Vấn đề ở đây không phải là tín đồ mua và ăn thịt đã cúng mà không biết nhưng dù biết nhưng vẫn ăn. Có thể có người nghĩ không có thần nào cả ngoài ĐCT nên ăn cũng chẳng tội gì. Nhưng ĐCJC buộc tội HT B. là họ chủ ý làm theo lời dạy của Ba-la-am là ăn của cúng thờ cho tà thần, không phải cách vô ý, nhưng chủ ý.
Trong 1 Cô-rinh-tô 8 PL dạy về việc ăn đồ cúng thần tượng. PL giải thích Nhưng hãy cẩn thận, đừng để quyền tự do của anh chị em gây cho những người yếu đức tin vấp phạm. 10 Nếu có ai thấy anh chị em là người hiểu biết ngồi ăn trong đền thờ thần tượng, vì lương tâm yếu đuối họ được khuyến khích cũng ăn đồ cúng thì sao? 11 Vì thế sự hiểu biết của anh chị em hủy diệt người yếu đuối ấy, là người anh chị em Chúa Cứu Thế cũng đã chết thay cho. (8:9-11 – BDM).
Ngồi ăn trong đền thờ có thể vì thờ thần đó hay cũng có thể vì thức ăn miễn phí hay vì bè bạn mời đến ăn. Ngồi ăn vì thức ăn, vì cuộc vui chơi với bè bạn, vì muốn hòa đồng với mọi người là điều tín đồ không nên làm. Dù có nể bạn đến mấy, dù thức ăn ngon đến mấy hay cuộc vui nhộn nhịp đến mấy thì tín đồ cũng không thể ăn của cúng thần tượng một khi đã biết.
Vậy tín đồ có nên ăn giổ hay không? Câu trả lời là tín đồ có thể đến dự, và có khi nên đến dự vì quan hệ. Nhưng giải thích cho gia đình là vì niềm tin trong Chúa nên tôi không ăn đồ cúng. Nếu gia đình biết để dành riêng thức ăn không cúng thì tôi có thể cùng dự bửa ăn với đồ không cúng.
Một trường hợp khác là các hội đoàn thương mãi và nghề nghiệp, như hội những người thợ mộc, thợ giày, những người làm rượu... Khi là thành viên của các hội này thì thường thức ăn cũng sẽ cúng cho đại đế hay các thần của nghề rồi mới đãi cho các hội viên. Nếu tín đồ là hội viên đến dự bửa tiệc với những người cùng nghề và nếu thức ăn cúng tế cho đại đế hay tà thần, thì tín đồ có nên ăn không?
Câu trả lời là tín đồ không nên ăn. Nhưng từ chối với thái độ hòa nhã thay vì chỉ trích, đã phá. Như sứ đồ Phi-e-rơ dạy: Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời mọi kẻ chất vấn về hy vọng của anh chị em, nhưng hãy đối đáp với thái độ khiêm tốn và kính trọng. (1 Phi-e-rơ 3:15).
LỜI KÊU GỌI ĂN NĂN VÀ LỜI HỨA THƯỞNG
Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó. 17 Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến. (KH 2:16-17)
Chúa kêu gọi HT B. ăn năn, chấm dứt việc dung túng tà giáo trong HT, chấm dứt việc ăn đồ cúng thần tượng và phạm tội tà dâm. Nếu không Chúa sẽ đến và chống với họ bằng gươm nơi miệng Ngài. Đây là lý do mà trong thư này, ĐCJC tự xưng Ngài là Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi, một chi tiết khi Giăng viết về ĐCJC trong đoạn 1: Tay phải Ngài cầm bảy vì sao, miệng Ngài hé lộ một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. (1:16).
Hình ảnh thanh gươm 2 lưỡi sắc bén từ miệng tượng trưng cho sự thật của lời Chúa. PL gọi lời ĐCT là gươm của ĐTL (Eph 6:17). Sách Hê-bơ-rơ cũng ví lời Chúa như gươm 2 lưỡi: Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. (Hê-bơ-rơ 4:12)
Vậy lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó có nghĩa là dùng sự thật từ lời Chúa trong KT để đối nghịch cùng tà giáo, những lời dạy sai lầm khiến dân sự Chúa phạm tội.
Chúa hứa sẽ ban cho người làm theo lời Chúa dạy: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến. Ma-na là thức ăn từ trời ĐCT ban cho dân sự khi họ đi trong đồng vắng 40 năm. Hình ảnh ma-na dấu kín nói về bánh ma-na cất trong hòm giao ước sẽ được làm mới lại trong ngày sau rốt. Đây là bánh của sự sống đời đời như ĐCJC xưng Ngài là bánh hằng sống. Hình ảnh ma-na là thức ăn ban cho từ trời tương phản với thức ăn con người phải cúng tế cho các tà thần.
Hình ảnh hòn sỏi trắng với một tên mới được giải thích theo các nghĩa sau đây. Thứ nhất sỏi trắng có thể để tương phản với đá đen dùng làm trụ cột của nữ thần Cybele của xứ Phrygian mà B. là một thành phố trong xứ đó. Nghĩa thứ hai có thể là thời đó hòn sỏi được dùng làm vật được dùng làm vé để vào một buổi tiệc hay buổi lễ công cộng, như vé dự hôm nay. Có nghĩa là người được Chúa ban hòn sỏi trắng sẽ được nhận vào tiệc cưới chiên con trong ngày cuối. Nghĩa thứ ba có thể là sỏi trắng được dùng trong tòa án khi quyết định tha tội (sỏi đen là buộc tội). Vậy người được ban sỏi trắng là người được Chúa tha tội, trắng án trước tòa án của ĐCT.
Tên mới trong KT thường tượng trưng cho sự thay đổi của một người. Sự thay đổi này không phải do tự họ mà từ do ĐCT. Như Áp-ram được đổi thành Áp-ra-ham, Gia-cốp đổi thành Ít-sơ-ra-ên (Israel), Si-môn thành Phi-e-rơ. Tên mới liên hệ đến Ê-sai 56:5 Ta sẽ ban cho họ tại trong nhà ta và trong tường ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi. Và Các nước sẽ thấy sự công chính của ngươi; Tất cả các vua sẽ thấy vinh quang ngươi. Ngươi sẽ được gọi bằng tên mới, Là tên chính miệng CHÚA sẽ ban cho. (Ê-sai 62:2 – BDM).
BÀI HỌC VÀ ÁP DỤNG
3 thủ đoạn Sa-tan thường dùng để làm cho HT, tín đồ HT xa ngã : 1) Tù, tử; 2) Tội; 3) Tà. Thứ nhất, tù và tử vì Sa-tan thử thách, bắt bớ, bức hại người tin Chúa cho đến chết vì từ chối không thờ lại đại đế La-mã. Thủ đoạn thứ hai là tội: nó cám dỗ để tín đồ phạm tội hay sống luông tuồn, trác táng, tà dâm, như người ngoại. Thủ đoạn thứ ba là tà, là cách xảo trá, tinh vi hơn hết: làm cho HT dung túng tà giáo, những lời dạy sai trai với lời Chúa và tín đồ nghe theo những lời dạy này.
Trong suốt các thời đại từ HT đầu tiên đến nay, đây là 3 thủ đoạn, phương cách chính yếu mà ma quỉ dùng để chống đối HT Chúa và người theo Chúa. Khốn khó, hoạn nạn, bức hại, mất mát tài sản, sức khỏe, cơ hội, việc làm, tình cảm làm cho người ta bỏ Chúa hay trở nên nguội lạnh trong đức tin, mất đi tình yêu ban đầu. Sa-tan muốn sàn sẫy Gióp theo cách này khi làm cho ông mất tất cả tài sản, con cái, mất cả tình chồng vợ, sau đó làm cho Giăng phải bệnh tật đau đớn cùng cực.
Ma quỉ dùng thủ đoạn thứ 1 với các HT và tín đồ HT xưa và nay. Cụ thể là với HT Si-miệc-nơ và Bẹt-găm. Họ chịu hoạn nạn, khó khăn, nghèo khổ, bị bắt bớ, mất mát, tù đày, thậm chí bị xử chết. Dù vậy vẫn đứng vững trước thủ đoạn thứ 1 của ma quỉ. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt các nước hồi giáo và cộng sản, HT Chúa vẫn còn chịu khổ khi tin và theo Chúa.
Nhưng với các HT và tín đồ HT tại các nơi sung túc, đầy đủ, dễ dàng thì ma quỉ rất thành công khi sử dụng thủ đoạn thứ 2 & 3, tức là dụ dỗ tín đồ phạm tội, dụ dô HT tin theo các tà giáo. Khi thăm viếng các HT vùng sâu, vùng xa và HT tại Sài Gòn, một điều thường nghe là khi gặp bắt bớ HT lại tăng trưởng, đức tin tín đồ mạnh mẽ, nhưng khi đời sống vật chất đầy đủ thì HT lại ngừng phát triển, tín đồ xao nhạt trong đức tin để chạy đuổi theo đời sống vật chất.
HT B. không bỏ Chúa dù phải chịu chết, nhưng lại phạm tội cùng Chúa vì thủ đoạn thứ 2 & 3 của ma quỉ: tội và tà. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt và khéo léo ma quỉ cũng đang dùng để khiến tín đồ HT hôm nay, đặc biệt tại những nơi mà đời sống vật chất đầy đủ, dư dật, sung túc.
Lá thư đầu tiên của sứ đồ PL gởi các HT xứ Ga-la-ti viết không lâu sau chuyến truyền giáo thứ nhất. Lý do PL viết thư vì: Tôi ngạc nhiên thấy anh chị em vội vã từ bỏ Đấng đã kêu gọi anh chị em bởi ân sủng Chúa Cứu Thế để theo một phúc âm khác. (Ga-la-ti 1:6 – BDM). Sau đó PL nhấn mạnh rằng chỉ có 1 PA, 1 TL mà PL dạy họ, không có 1 TL nào khác. PL lập lại 2 lần: Nhưng nếu có ai, dù chính mình chúng tôi hay một thiên sứ từ trời truyền bá một phúc âm nào khác với Phúc Âm chúng tôi đã truyền giảng cho anh chị em thì kẻ ấy đáng bị nguyền rủa. 9 Như chúng tôi đã nói, nay tôi xin nói lại: Nếu ai truyền cho anh chị em một phúc âm nào khác với Phúc Âm anh chị em đã nhận, thì kẻ ấy đáng bị nguyền rủa. (1:8-9 – BDM)
Tôi hy vọng nếu hỏi con cái Chúa trong HT đây TL mà PL giảng, TL duy nhất về ĐCJC là gì, thì qv có thể trả lời được. TL duy nhất PL dạy có thể tóm tắt trong 1 Cô-rinh-tô 15:3-5: Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; 4 Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; 5 và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. TL thật sự gồm mấy điều quan trọng không thể thiếu mất hay thay đổi: 1) Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta [giải thích]; 2) Đến ngày thứ 3 Chúa sống lại và hiện ra cùng các môn đồ, gồm cả 1 lúc 500 người và cả PL; 3) Việc Đấng Christ xuống thế gian, chịu chết vì tội con người, sau đó sống lại đã được tiên tri trong KTCU.
Đời sống người tin Chúa có thể được ví như chiếc xe. Điều đầu tiên người chủ xe phải có đó là chìa khóa để mở cửa, mở máy. Chìa khóa xe có thể ví như việc xưng mình có tội và tiếp nhận Chúa vào đời sống: là điều kiện đầu tiên và thiết yếu nhất. Sau khi có chìa khóa, xe phải cần xăng hay điện để chạy. Xăng hay điện để xe chạy có thể ví như ĐTL trong đời sống tín đồ. Người tin Chúa chỉ có thể sống đẹp lòng ĐCT bởi sự giúp đở, trợ sức mầu nhiệm của ĐTL cũng như xe chỉ có thể chạy với đúng loại xăng, hay điện. Trong 1 Cor 15:3-5, PL viết về chìa khóa xe, về điều kiện quan trọng và cần thiết nhất để được ĐCT tha tội và nhận được sự cứu rôi từ ĐCJC. Nhưng xe không phải để đậu một chỗ, nhưng để dùng cho việc vận chuyển. Cũng vậy đời sống tín đồ không phải chỉ bắt đầu và chấm hết với việc tin nhận Chúa, hay nhận chìa khóa xe. Và cũng như xe phải có xăng để chạy, đời sống người tin Chúa cần phải có quyền năng ĐTL để bước đi mỗi ngày với Chúa.
HT B. hiểu đúng, hiểu rõ việc tin nhận ĐCJC. Họ nhận đúng chìa khóa xe và chịu khó, chịu khổ, thậm chí chịu chết để giữ chiếc chìa khóa xe. Như lời của ĐCJC trong thư gởi: ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở. (KH 2:13). Từ vững lòng có nghĩa là nắm chặt. Cùng một từ ĐCJC nắm chặt 7 ngôi sao trong tay Ngài. Từ đạo có nghĩa là lời dạy. Cùng một từ dùng để nói về những lời dạy sai lầm (tà giáo) của Ba-lam, của Ni-cô-la trong câu 15.
Điều Chúa trách HT là thay vì sống theo sự hướng dẫn, dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị của ĐTL, họ dung túng lời dạy Ba-la-am, kẻ đã dạy Ba-lác đặt đá gây vấp ngã trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, quyến rũ chúng ăn của cúng thần tượng và phạm tội tà dâm, và lời dạy của Ni-cô-la. Thay vì dùng xăng nguyên chất, unleaded, họ dùng xăng pha trộn. Như sau 75 vì xăng hiếm và đắt nên hầu hết xăng bán ngoài đường từng lít một đều pha với dầu hôi. Xe đổ xăng này vẫn chạy nhưng nếu tiếp tục thì vài tháng sau xe sẽ có vấn đề!
