Hầu Việc Chúa – Ân Tứ Thánh Linh
Trong bài giảng tuần rồi tôi chia sẻ với HT về lời ĐCT lên án dân sự DT nói nghịch cùng ĐCT về sự hầu việc Chúa trong Ma-la-chi 3. Dân sự bảo với nhau là giữ điều Chúa dạy, hầu việc ĐCT là vô ích, luống công, mệt nhọc lại không đem lại gì lợi ích cho họ, ăn năn tội là vô ích. Chúa cũng lên án họ là ăn cướp Chúa. Khi họ hỏi lại: chúng tôi ăn cướp Chúa thế nào, thì ĐCT trả lời họ ăn cướp Chúa qua của dâng phần mười và các của dâng khác. Tức là họ không dâng phần mười tổng huê lợi, thu nhập và cũng không dâng các của lễ thờ phượng như lời Chúa dạy họ. KT cũng dạy rằng ĐCT để ý lắng nghe những người kính sợ Chúa và sẽ ghi tên những người đó trong sách để ghi nhớ. Chúa nói những người đó là cơ nghiệp, là tài sản quí báu của ĐCT trong ngày Chúa phán xét. Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ phân biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài. (3:18)
Bài giảng sáng nay và tuần lễ tới là về ân tứ TL. Bởi vì để phục vụ chúng ta cần có ân tứ ĐTL ban cho. Ân tứ TL là gì? Ân tứ TLcó khác gì với khả năng không? Ân tứ TL để làm gì? Ân tứ TL liên quan thế nào đến trái TL? Làm thế nào để biết mình có những ân tứ nào? Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những câu trả lời cho những câu hỏi này. Hai điều trong bài giảng hôm nay: 1) Ân tứ TL là gì? 2) Ân tứ TL và trái TL. Tuần lễ tới chúng ta sẽ tìm hiểu về 1) Ân tứ TL để làm gì? 2) Khám phá ân tứ TL
ÂN TỨ THÁNH LINH LÀ GÌ?
Chúng ta đang sống trong một xã hội tiêu thụ. Mục đích là để cung ứng, thỏa mản mọi nhu cầu cá nhân. Mọi quản cáo đều nhằm một ý chính là qv cần thứ hàng này để được khỏe mạnh hơn, xinh đẹp hơn, tiện nghi hơn, sang trọng hơn, tài giỏi hơn.
Suy nghĩ của tín đồ, của những người đến HT ngày nay cũng bị ảnh hưởng bởi xã hội tiêu thụ. Người đến HT thường là người tiêu thụ (consumers). HT cần phải đáp ứng sở thích, ý muốn, nhu cầu, đòi hỏi của người đến nhóm, dù là khách hay tín đồ. Người tiêu thụ khi đến HT sẽ đặt nhiều câu hỏi. Khi đến HT tôi được gì? Cơ sở có sạch sẻ, khang trang, tiện nghi không? Mục sư giảng thế nào? Âm nhạc thờ phượng có hợp với “gu” của tôi không? Âm thanh, ánh sáng có đúng mức không? Ban hát thờ phượng thế nào? Có chương trình thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên thích hợp với các con tôi hay không? Người nhóm trong HT có nhiệt tình, hiếu khách, vui vẻ, cởi mở với tôi không? Sinh hoạt có vui không?
Người tiêu thụ có một danh sách về những điều kiện, tiêu chuẩn họ chấm về HT. Và các HT tranh đua với nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của người đến nhóm. Trọng tâm của HT là làm thế nào để thích ứng với người đến dự nhóm để họ có thể trở lại. Nếu không thích thì người tiêu thụ sẽ đi đến HT khác thích ứng với nhu cầu của tôi hơn. [Câu chuyện 2 vị MS cầu nguyện chung]
Tín đồ tiêu thụ muốn đến nhóm với 1 HT đừng đòi hỏi họ quá nhiều, từ việc dâng hiến đến thời gian, từ việc học KT đến việc tham gia các nhóm. Và dĩ nhiên không muốn có một cam kết (commitment) nào với HT cả. Tiêu chuẩn tham gia là tùy theo họ, cam kết hay không là tùy họ, chớ không tùy theo lời KT dạy. HT phải thích ứng, thay đổi theo họ, chớ đừng nghĩ họ phải thích ứng, thay đổi theo HT.
Nếu trong xã hội tiêu thụ người tiêu thụ (customer) quan trọng hơn hết, người tiêu thụ luôn luôn đúng (customers are always right!) thì HT của những người tiêu thụ cũng sẽ đặt ưu tiên, trọng tâm làm thế nào để đáp ứng mọi nhu cầu, sở thích, đòi hỏi của người tiêu thụ. Việc thêm tín đồ, giữ tín đồ là trọng tâm hàng đầu, dù có phải di du với lời KT dạy. Tránh những đoạn KT, những đề tài có thể làm cho người nghe phải khó chịu như phục vụ, dâng hiến hay đi ngược lại với trào lưu xã hội như hôn nhân, vấn đề đồng tính...
Trong HT của những người tiêu thụ ĐTL có thể không quan trọng bằng những người cố vấn hiểu biết về thống kê dân sự trong vùng, về tâm lý tín đồ, cách thức tổ chức, trang bị cơ sở; tín đồ với ân tứ và trái TL không quan trọng bằng những người tài giỏi, đầy khả năng dù tính hạnh thế nào.
Tổng thống Kennedy thách thức cả 1 thế hệ: đừng hỏi quốc gia đã làm gì cho bạn, nhưng phải hỏi bạn đã làm gì cho quốc gia? Câu hỏi đó, thách thức đó hôm nay như đã im tiếng, chỉ là sáo ngữ. Người tiêu thụ trong HT hôm nay sẽ hỏi: đừng hỏi tôi đã làm gì cho HT nhưng phải hỏi HT đã làm gì cho tôi? Nhưng thái độ này, câu hỏi này, suy nghĩ này hoàn toàn trái lại với lời dạy KT, với gương của ĐCJC. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mác 10:45) Trái với lời nhắc nhở của PL cùng các trưởng lão và tín đồ HT Ê-phê-sô về lời dạy của ĐCJC Ban cho có phước hơn nhận lãnh.
KT dạy HT là thân thể của ĐCJC. Chúa là đầu HT. Mỗi người tin Chúa trong HT là chi thể của thân. Chi thể gắn liền vào thân. Đầu điều khiển thân, ra lệnh cho chi thể đi đây, đi đó, làm điều này, điều nọ. Một người bị bệnh kinh phong là người mà tay chân, các bắp thịt trong người hoàn toàn không làm theo ý muốn của đầu. Một người bệnh lupus là khi các tế bào trong người tấn công, phá hại chính mình.
HT của ĐCT là HT lắng nghe và làm theo lời dạy của ĐCJC trong KT. Trong HT của ĐCT các chi thể vâng phục mạng lệnh của đầu là Đấng Christ, chứ không làm theo ý riêng, sở thích của mình. Tư tưởng, quan điểm tiêu thụ trong HT cũng ảnh hưởng đến cung cách, thái độ hầu việc Chúa. Tôi làm theo ý tôi, theo cách tôi, theo khả năng tôi, trong thời điểm thuận lợi do tôi chọn.
Tôi giải thích những điều này vì ân tứ TL gắn liền với trái TL, những tính hạnh KT dạy, với mục đích làm lợi ích cho thân thể Chúa là HT, đem lại vinh hiển cho đầu là ĐCJC, đem lại khích lệ và sự tăng trưởng của các chi thể trong thân, tức anh chị em trong Chúa. Chúng ta có thể định nghĩa của ân tứ TL như sau: Ân tứ Thánh Linh là món quà Chúa ban cho những người hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Giê-xu là Đấng cứu tội và là Chúa của đời sống, nhằm mục đích đem người đến với Chúa, gây dựng anh chị em trong Chúa và đem lại lợi ích cho hội thánh Chúa.
Ân tứ TL là món quà Chúa ban cho những người hoàn toàn tin cậy ĐCJC là Đấng cứu tội và là Chúa của đời sống.
Tin ĐCJC là Đấng cứu tội là đức tin đưa đến sự cứu rỗi vì chúng ta được cứu nhờ ân điển bởi đức tin chứ không phải vì công đức. Tin ĐCJC là Chúa của đời sống là đức tin năng động (active faith) trong cuộc sống mỗi ngày của người đã được Chúa cứu, đức tin sinh ra trái TL, những tính hạnh con tim, đức tin sinh ra việc làm, phục vụ. Như lời tác giả Hê-bơ-rơ: Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài (11:6). Ở có nghĩa là sống. Như lời PL viết trong lá thư cuối đời gởi cho Ti-mô-thê: Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. (2 Ti-mô-thê 2:7).
KT dạy ĐTL ban ân tứ cho mỗi người tin Chúa, không ngoại lệ. Ân tứ là quà tặng của ĐTL cho người tin Chúa. Nếu là quà tặng thì chúng ta chỉ là kẻ nhận. Người ban cho là ĐTL của ĐCT. Không có gì để chúng ta có thể khoe khoang như của chính mình.
Thường thì có hai loại quà chính: 1) cho sự vui thỏa của cá nhân (personal enjoyment) như áo quần, iphone, nhẫn vàng, 2) để làm công việc (service) nào đó như dụng cụ sửa nhà, máy hút bụi, bộ nồi nấu. Sự khác biệt này cũng như xe SUV Lexus và xe truck dùng để chở đồ.
ĐTL ban ân tứ, quà đặc biệt cho người tin Chúa không phải chỉ để cho sự vui thỏa cá nhân, để chỉ dùng cho mình họ nhưng chủ yếu để hiệp một và làm ích lợi chung cho hội thánh, cho thân thể Đấng Christ. Qv chú ý là khi viết về ân tứ TL, PL thường gắn liền với hình ảnh của HT là thân thể của Đấng Christ, ĐCJC là đầu của thân và các tín đồ là chi thể của thân. Cũng như thân có nhiều chi thể khác nhau và các chi thể cần làm việc hòa hợp với nhau theo lệnh của đầu thì HT cũng cần những ân tứ khác nhau làm việc hòa hợp với nhau dưới sự dạy dỗ của ĐCJC.
KTTU, chủ yếu sứ đồ PL, viết về ân tứ TL trong 3 đoạn: Rô-ma 12:3-8, 1 Cô-rinh-tô 12:1-11, Ê-phê-sô 4:1-13. 3 đoạn KT này nêu ra những ân tứ khác nhau như tiên tri, mục sư, phục vụ, giảng dạy, lãnh đạo, dâng hiến, thương xót, yên ủi… Tất cả ân tứ TL đều là hành động hay đưa đó hành động.
Rô-ma 12:6-8: nói tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, động viên
1 Cô-rinh-tô 12: 8-10, 28: nói lời khôn ngoan, nói lời tri thức, chữa bịnh, làm phép lạ, nói tiên tri, nhận biết các thần, nói các tiếng lạ, thông dịch các tiếng lạ, sứ đồ, tiên tri, thầy giáo, làm phép lạ, ơn chữa bịnh, giúp đỡ, quản trị, nói tiếng lạ.
Ê-phê-sô 4:11: sứ đồ, tiên tri, thầy giảng Tin Lành (truyền giáo), mục sư, giáo sư
Những ân tứ khác nhau PL liệt ra trong 3 đoạn KT trên có thể được tóm lại làm 2 loại như trong 1 Phi-e-rơ 4:10-11: 1) Ân tứ trong việc chia sẻ, giải thích lời Chúa (speech gift); 2) Ân tứ trong sự phục vụ công việc Chúa (act gift): Mỗi một người nên dùng ân tứ đã nhận lãnh để phục vụ người khác, như một người quản trị trung tín, khéo quản trị các ơn khác nhau của Đức Chúa Trời. 11 Nếu có ai giảng luận thì hãy giảng như nói ra lời của Đức Chúa Trời; nếu có ai phục vụ, hãy phục vụ bằng sức mạnh Chúa ban, để trong mọi sự Đức Chúa Trời được ngợi khen qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Ví dụ rõ nhất là câu chuyện trong CV 6 khi có sự lục đục giữa các tín đồ người DT và người Hy Lạp vì những người góa bụa Hy Lạp bị bỏ bê trong việc cung cấp thức ăn hằng ngày. KT viết: Mười hai sứ đồ triệu tập toàn thể tín hữu tuyên bố: "Bỏ việc phục vụ Lời của Đức Chúa Trời để đi hầu bàn là điều không nên làm. 3 Vậy thưa anh em xin hãy chọn giữa vòng mình bảy người được chứng nhận là tốt, đầy dẫy Thánh Linh và khôn ngoan; chúng tôi sẽ giao trách nhiệm này. 4 Còn chúng tôi sẽ chuyên tâm cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa." (CV 6:2-4 – BDM)
Ân tứ của 12 sứ đồ là việc giảng dạy lời Chúa. HT cần chọn những người có ân tứ phục vụ cho công việc hầu bàn.
PL viết có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một ĐTL. Có nghĩa là ĐTL ban cho tùy theo ý chỉ và mục đích của Ngài, chứ không phải do ý muốn hay đòi hỏi của tín đồ. Vì vậy chớ so sánh với nhau xem ơn nào lớn hơn, có phước hơn. Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh. Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. (1 Cô-rinh-tô 12:4-7)
Không có gì buồn lòng cha mẹ hơn trong buổi sáng GS sau khi nhận quà tặng, mở ra xem xong các con lại tranh cải với nhau về giá trị quà mình nhận hay trách móc cha mẹ sao không cho đồng đều. Khi chúng ta so sánh ân tứ mình có với anh chị em trong Chúa để hơn thua thì chúng ta nói rằng ĐCT không công bằng vì cho họ nhiều hơn, cho tôi ít hơn, hay trở nên kiêu ngạo vì Chúa cho tôi nhiều hơn cho họ!
Thực tế hội thánh thường không khác gì cảnh tượng đáng buồn này. Thay vì cùng nhau đóng góp cho công việc chung, tín đồ vì bao nhiêu lý do “không thể nói ra” hay “mục sư không hiểu được đâu” mà không muốn làm việc chung với nhau hay hờn giận với nhau, hay buồn trách Chúa sao không cho mình món quà này mà lại cho “cái người đáng ghét kia”, hay giận mục sư sao coi thường sự đóng góp mình mà trọng sự đóng góp của người.
Với mục đích đem người đến với Chúa, để gây dựng anh chị em trong Chúa và đem lại lợi ích cho HT Chúa.
Hai từ ân tứ và ân điển khác nhau thế nào? Ân điển là sự ban cho của ĐCT mà chúng ta không đáng nhận lãnh, do lòng thương sót Chúa. ĐTL ban ân điển để chúng ta bởi đức tin mà được nhận sự cứu rỗi và để sống theo lời Chúa dạy. ĐTL ban ân điển để chúng ta ngày càng giống ĐCJC, để có trái TL, để có những tính hạnh con tim. Bởi ân điển ĐTL ban ân tứ để chúng ta phục vụ. Mục đích của ân điển là để chúng ta được cứu và sống đạo, để ngày càng gần và giống ĐCJC. Mục đích của ân tứ là để phục vụ, đóng góp, gây dựng HT Chúa. Nói cách khác ĐTL không ban ân tứ cho tín đồ tiêu thụ mà chỉ cho tín đồ phục vụ. Ân tứ được ban cho với mục đích cụ thể để làm lợi ích chung cho hội thánh, chứ không phải làm nổi bật cá nhân.
Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh. Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. (1 Cô-rinh-tô 12:4-7)
Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hợp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con của Đức Chúa Trời, tiến đến mức trưởng thành, phát triển đến tầm thước vóc dáng đầy trọn của Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:11-13 – BDM)
Qv hỏi: ân tứ khác với khả năng thế nào, khác với ta-lâng thế nào? Ân tứ khác với khả năng là trong mục đích và kết quả. KT dạy có 2 loại ân điển: ân điển chung và ân điển đặc biệt của ĐTL. Vì lòng nhân từ nên ĐCT ban cho mọi người khả năng. Nếu không có khả năng thì xã hội không thể phát triển, tiến bộ. Không ít thì nhiều mọi người đều có khả năng. Khả năng được ĐCT ban cho khi một người sinh ra. Nhưng ân tứ chỉ được ban cho người tin Chúa; ân tứ được ĐTL ban cho khi một người tái sinh (born again). Người tin Chúa có thể được ân tứ TL dù không có khả năng.
Học giả KT JI Packer giải thích sự khác nhau giữa ân tứ và khả năng như sau: Khả năng ăn nói hay khả năng làm việc – chúng ta có thể gọi là khả năng thực hiện – chỉ là ân tứ nếu và khi ĐCT dùng để gây dựng [tín đồ, HT]... Một số khả năng tự nhiên [hay ta-lâng] Chúa ban cho không được dùng cho mục đích này, trong khi một số [khả năng] khác Chúa dùng để gây dựng dù được xem là thiếu tiêu chuẩn bởi người có khả năng. “Ability to speak or act in a particular way—performing ability, as we may call it—is only a charisma [a spiritual gift] if and as God uses it to edify... Some natural abilities [or talents] that God has given he never uses in this way, while sometimes he edifies through performances that to competent judges seem sub-standard.”
Giữa thế kỷ 19 có 2 người giảng TL rất nổi tiếng là Charles Spurgeon, người Anh và DL Moody, người Mỹ. Spurgeon là một người có tài năng ăn nói xuất chúng. Ông bắt đầu giảng lời Chúa năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi là mục sư của HT nổi tiếng nhất thành phố Luân Đôn (London); 22 tuổi ông giảng cho trên 10K người. Đến nay người ta vẫn còn gọi ông là the prince of preachers. Người ta nói nếu không làm mục sư thì chắc ông đã là thủ tướng Anh Quốc vì tài ăn nói thu hút dân chúng. Qua sự giảng dạy của Spurgeon mà bao nhiêu chục ngàn người tin Chúa, hầu việc Chúa. Khả năng đó là ân tứ TL.
DL Moody, người Mỹ là một người không học thức đến trung học. Xuất thân là một người bán giày. Ông nói sai văn phạm, dùng chữ không chuẩn, cà-lâm, phát âm không rõ ràng. Nhưng ĐCT lại dùng Moody một cách kỳ diệu. Lời giảng của ông dù không hay, không thu hút như Spurgeon nhưng lại khiến cho bao nhiêu người tin Chúa. Có những cuộc truyền giáo ông giảng cho trên 13K người. Khi sang trường đại học Cambridge và các trường đại học nổi tiếng Anh Quốc, dù nói sai văn phạm, dùng chữ không chuẩn, giọng nói không thu hút, nhưng Chúa dùng ông để dấy lên 7 người truyền giáo sau này gọi là the Cambridge seven. ĐTL ban cho ông DL Moody ân tứ giảng TL dù khả năng ăn nói của ông rất hạn chế. Ông nói: "If this world is going to be reached, I am convinced that it must be done by men and women of average talent." Nếu thế giới được nghe về Chúa, tôi tin rằng điều này phải được thực hiện bởi những người với khả năng trung bình.
Khi một người có ân tứ TL thì dù khả năng thế nào, người đó vẫn đem lại kết quả cho Chúa. Người có ơn làm chứng thì dù có giải thích TL rất đơn sơ, chia sẻ vài 3 câu, dù nói sai văn phạm, thì vẫn cảm động lòng người nghe khiến họ tin Chúa. Người có ơn giảng dạy thì dù có nói không rành mạch, kiến thức KT giới hạn vẫn có thể được Chúa dùng để gây dựng anh chị em trong HT. Người có ơn động viên, khuyên dỗ thì có khi chỉ im lặng, lắng nghe vẫn làm cho người đang trong cảnh ngộ khó khăn được yên ủi, khích lệ.
Tên khổng lồ Gô-li-át là người cao lớn, có sức mạnh phi thường khiến cả đạo quân của vua Sau-lơ phải kinh khiếp. Đa-vít không có sức mạnh, không cao lớn như Gô-li-át nhưng được ĐTL ban cho ơn xử dụng cái nỏ bắn súc vật khi ông chăn bầy mà giết được Gô-li-át.
PL không phải là người ăn nói giỏi hay có tài hùng biện. Có người nói rằng các thơ của người nặng lời và bạo mạnh; nhưng đến khi có mặt thì người yếu đuối và lời nói chẳng có giá gì. (2 Cô-rinh-tô 10:10) A-bô-lô mới là người có tài ăn nói. Nhưng ĐCT dùng PL cách kỳ diệu, lạ thường để đem TL đến cho dân ngoại, để dạy dổ tín đồ.
Nói vậy không có nghĩa là chúng ta cứ để tự nhiên, không cần trau dồi khả năng, không cần học hỏi. Nhưng để hiểu rằng chính ĐTL là Đấng đem lại kết quả, chính ĐTL dùng khả năng của người tin Chúa cho mục đích của Ngài. Mỗi tín đồ đều cần phải tìm hiểu mình có khả năng gì để xin ĐTL biến khả năng đó thành ân tứ hầu có thể phục vụ Chúa cách hữu ích. Mỗi tín đồ có trách nhiệm nhận xét trong HT xem có công việc, mục vụ gì cần làm, nhu cầu gì cần đáp ứng, anh chị em nào cần được nâng đở, xây dựng.
Khi người tin Chúa nhìn thấy nhu cầu của HT thì dù không có khả năng, hay khả năng “thiếu tiêu chuẩn” có thể cầu xin ĐTL ban cho ân tứ để có thể phục vụ. Như lời dạy của Gia-cơ: Nếu trong anh chị em có ai thiếu kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì sẽ được Ngài cho; Ngài là Đấng ban cho mọi người cách rộng lượng, không quở trách. (1:5) Hay như lời tác giả TT: Hãy vui thỏa trong Chúa, rồi Ngài sẽ ban cho bạn mọi điều lòng bạn ao ước. (TT 37:4 – BD2011)
Ân tứ được ban cho khi chúng ta tái sanh trong ĐCJC như khả năng được ĐCT ban cho khi sinh ra. Ngoại trừ khi có tai nạn hay biến cố gì đó, khả năng là cho cả cuộc đời. Cũng vậy ân tứ, ngoại trừ khi tín đồ phạm tội, là cho cả cuộc đời. Không ai chỉ có một khả năng trong cuộc sống thì cũng không ai chỉ có một ân tứ duy nhất. Thường ân tứ này gắn liền với ân tứ khác như người có ơn khuyên bảo thường có ơn lắng nghe, ơn động viên, khích lệ. Người khác có ơn khuyên bảo cũng có ơn dùng KT để giải thích điều này nên làm, điều kia nên tránh. Chúng ta sẽ tìm hiểu những quan hệ giữa các ân tứ trong sự phục vụ trong bài giảng tuần tới.
ÂN TỨ VÀ TRÁI THÁNH LINH
KT dạy mọi tín đồ đều cần có trái TL. Một trái với tất cả hương vị hòa hợp với nhau: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ (Ga-la-ti 5:22). ĐTL sẽ giúp mỗi người tin Chúa đậu một trái TL với những hương vị khi họ ở trong ĐCJC. Tôi đã giảng thế nào là ở trong ĐCJC như lời Chúa dạy trong Giăng 15 trong những bài giảng năm rồi. Có ân tứ mà không có trái TL thì có thể sinh ra kiêu ngạo, tự phụ, thậm chí gây ra bất hòa, chia rẽ trong HT. Điều này không khác gì người tài giỏi mà không có đức hạnh.
Trong cả ba đoạn KT về ân tứ TL, PL đều nhấn mạnh về những phẩm tính của trái TL, những tính hạnh con tim. Trước khi liệt ra các ân tứ, PL bắt đầu Rô-ma 12:1-3 với lời khuyên bảo: Thưa anh chị em, vì thế tôi nài xin anh chị em - do lòng thương xót của Đức Chúa Trời, hãy dâng hiến chính mình như những sinh tế sống, thánh khiết, đẹp lòng Đức Chúa Trời - đó là sự thờ phượng hợp lẽ của anh chị em. 2 Đừng rập khuôn theo đời này, nhưng hãy được biến hóa bởi sự đổi mới tâm trí, để thử nghiệm cho biết ý định tốt lành, trọn vẹn và đẹp lòng Đức Chúa Trời. 3 Vì nhờ ân sủng Chúa ban cho tôi, tôi xin nói với mỗi người trong anh chị em: Đừng nghĩ về mình cao quá, nhưng hãy bình tâm suy nghĩ, đúng theo lượng đức tin Đức Chúa Trời đã ban phát cho mình. (BDM)
PL khuyên người dâng mình làm của lễ đẹp lòng ĐCT phải là người được biến hóa với sự đổi mới tâm trí, là người khiêm nhường, không nghĩ quá cao về mình. Câu 4: Vì như trong một thân thể, ta có nhiều phần, nhưng tất cả các phần không có cùng một chức năng, 5 cũng thế dù chúng ta đông người, nhưng chỉ có một thân thể trong Chúa Cứu Thế và mỗi người là các phần của nhau. PL dùng hình ảnh của thân thể để nói lên sự hòa hợp, hiệp một, liên kết chặt chẻ với nhau giữa các phần chi thể của thân.
Chỉ sau khi giải thích về sự cần thiết của sự thay đổi để giống như Chúa, về sự khiêm nhường, về sự hiệp một, PL mới nói về những ân tứ TL khác nhau ban cho HT.
Cũng vậy PL viết trong Ê-phê-sô 4:1-3: Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, 2 phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, 3 dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. Sau đó PL mới viết về ân tứ: Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế (11-12 - BDM)
Trong 1 Cô-rinh-tô 12, sau khi nêu lên các ân tứ TL ban cho HT, sứ đồ PL nhắc các tín đồ: Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn. Kế là đoạn KT quen thuộc về tình yêu thương mở đầu với sự cả quyết rằng dù có ân tứ gì đi nữa, dù cho hy sinh phục vụ đến mấy đi nữa nhưng không có tình yêu thương, tức con đường tốt lành hơn, tức sự ban cho lớn lao hơn, thì cũng vô ích, luống công.
Có gì đau lòng ĐTL của ĐCT hơn tín đồ dùng chính ân tứ đã nhận để làm tổn thương thân thể Đấng Christ. Thay vì gây dựng, đả kích. Thay vì đóng góp, chê bai. Thay vì tham gia, trách móc, hờn giận. Dù có hằng ngàn ân tứ trong một người tín đồ như vậy thì có lợi ích gì? Ân tứ ĐTL chỉ có giá trị thật sự trong đời sống tín đồ khi được xử dụng cho lợi ích của thân thể ĐCJC là hội thánh. Theo lời KT dạy thì ân tứ TL không thể tách rời với trái TL vì mục đích là làm sáng danh Chúa, làm lợi ích cho HT ĐCT. Như một đồng tiền với 2 mặt. Như thân và đầu. Như cá với nước.
Một tín đồ có thể phục vụ, làm việc trong HT thậm chí đem lại kết quả nhưng tấm lòng nguội lạnh, xa cách Chúa, để thêm danh tiếng cho mình. Có ân tứ nhưng không có trái TL. Nhưng rồi theo thời gian chỉ đem lại đổ vỡ, tranh chấp, hờn giận, chia rẽ trong HT. Qv chắc có nghe câu: my way or no way, tức là theo cách của tôi hay không theo cách nào cả, không có gì cả.
Nhưng người đầy dẫy TL chắc chắn sẽ là người dùng ân tứ để gây dựng cho HT. Họ phục vụ với tấm lòng chân thành, yêu thương, khiêm nhường; với lời nói khả ái, mềm mại, xây dựng; với mục đích đem lại ích lợi cho HT mà duy trì sự hiệp một.
Trái TL là con người bên trong; ân tứ TL là hành động bên ngoài. Hành động bên ngoài có thể không thật với con người bên trong. Đây là lý do mà PL khuyên răn Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. (1 Ti-mô-thê 3:6)
[Câu chuyện của người chấp sự trẻ tuổi đòi cả MSQN và BĐH phải có sự đồng ý của anh trước khi tiến hành một công việc cho HT]
Một HT với tín đồ đầy dẫy TL, trái TL, có tình yêu thương, sự khiêm nhường, hiệp một tốt hơn bao nhiêu lần một HT với tín đồ tài giỏi, nhiều ân tứ nhưng lại kiêu ngạo, chia bè phái, gây gỗ. ĐCJC dạy thế gian nhận biết chúng ta là môn đồ Chúa nếu chúng ta yêu nhau.
ÂN TỨ ĐỂ LÀM GÌ?
Qv đã biết ân tứ để làm gì theo như định nghĩa. Ân tứ được ĐTL ban cho để chia sẻ TL, để phục vụ, để gây dựng tín đồ, HT Chúa.
Đây là điều kiện quan trọng vô cùng mà tôi sẽ giải thích thêm trong phần 3 của bài giảng về ân tứ TL và trái TL.
Ân tứ TL là món quà ĐTL ban cho người tin Chúa, mỗi người khác nhau tùy theo sự ban cho của ĐTL chớ không do ý muốn hay đòi hỏi của tín đồ. Ân tứ TL được ban cho để phục vụ, đúng hơn là cùng nhau phục vụ để xây dựng HT.
ÂN TỨ VÀ THÂN THỂ ĐẤNG CHRIST
ĐTL của ĐCT hiểu biết rõ lòng dạ con người dù là tín đồ hội thánh vẫn còn đầy dẫy sự ghen tức, kiêu hãnh, dễ hờn trách, mau nóng giận, khó làm việc chung với nhau nên trong cả 4 đoạn KT đều dạy dỗ trước khi nói về sự ban cho ân tứ.
Có gì đau lòng ĐTL của ĐCT hơn tín đồ dùng chính ân tứ đã nhận để làm tổn thương thân thể Đấng Christ. Thay vì gây dựng, đả kích. Thay vì đóng góp, chê bai. Thay vì tham gia, trách móc, hờn giận. Dù có hằng ngàn ân tứ trong một người tín đồ như vậy thì có lợi ích gì? Ân tứ ĐTL chỉ có giá trị thật sự trong đời sống tín đồ khi được xử dụng cho lợi ích của thân thể ĐCJC là hội thánh. Quí vị hỏi làm lợi ích cho thân thể Đấng Christ, cho hội thánh trừu tượng quá. Điều gì cụ thể hơn. Tôi có hai điều cụ thể sau đây cho tất cả chúng ta:
1. Chia sẻ, san sớt để làm cho nhau thêm mạnh mẽ - Rô-ma 1:11-12: Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng (chia xẻ, san sớt) sự ban cho thiêng liêng (ân tứ) cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi.
Khi anh chị em ngã lòng, chùng bước, thậm chí vấp ngã, hãy tương trợ, yên ủi, nâng đở thay vì chỉ trích, chê bai. Lắm lúc một cái nhìn cảm thông, một lời khuyến khích, một hành động ân cần quan trọng hơn bao nhiêu bài giảng từ đoạn KT này, đoạn KT khác. Có lúc anh chị em chỉ cần có người lắng nghe để biết rằng họ còn có người quan tâm cho mình.
Đôi lúc hội thánh chú ý quá nhiều về việc phân tích ân tứ này, ân tứ nọ và tìm nhiều cách để giúp tín hữu biết họ có ơn gì qua trắc nghiệm, bài thử… Đơn giản nhất đối với tôi là nghĩ đến cách nào giúp cho anh chị em trong hội thánh được thêm mạnh mẽ trong đức tin, có hy vọng, niềm tin yêu trong đời sống hằng ngày, có niềm vui trong sự hầu việc Chúa. Quan trọng nhất không phải là biết mình có ân tứ gì, nhưng muốn làm gì để giúp cho anh chị em trong Chúa được mạnh mẽ hơn.
Bản tính con người hay đả phá hơn xây dựng, làm cho yếu đuối hơn làm cho mạnh mẽ. Chỉ trích, phàn nàn, chê bai, trách móc dễ hơn là tham gia, đóng góp, khen ngợi, động viên. Chúng ta cần bắt đầu mỗi ngày với sự cầu nguyện: Xin ĐTL giúp con được ơn Ngài để con có thể làm cho anh chị em con thêm mạnh mẽ, vững mạnh trong đức tin. Cần tìm cách để dùng những khả năng mình có mà làm điều này.
2. Giúp cho mọi người được thành nhân trong Đấng Christ - Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ. (Ê-phê-sô 4:11-13)
Không chỉ làm cho mạnh mẽ nhưng cuối cùng giúp cho mọi người được trưởng thành trong Chúa. Lý do gì hội thánh không mạnh mẽ? Vì tín đồ không trưởng thành. Con trẻ thật dễ thương nhưng không thể ở trong tình trạng đó suốt đời. Dù có dễ thương đến mấy cũng phải đến thời gian nào đó lớn lên, rồi trưởng thành.
Dấu hiệu của người trưởng thành trong đức tin là gì? Là có khả năng để giúp người khác trở nên mạnh mẽ, giúp người khác trưởng thành như chính họ đã trưởng thành. Phải chăng đây là trách nhiệm chính yếu và quan trọng nhất của những người làm cha mẹ: giúp con mình tự lập, có gia đình, rồi dạy lại con cái của chính chúng nó được nên người. Quá trình tái tạo này là lý do ĐCT ban cho tín đồ trong hội thánh ân tứ.
ÂN TỨ VÀ SỰ TẬP TÀNH
Nhiều người nghĩ rằng vì ĐTL ban cho ân tứ, quà đặc biệt từ ĐCT nên sẵn sàng để xử dụng. Như mì ăn liền, chỉ cần mở gói ra, bỏ vào nước sôi là có bửa ăn ngon ngay lập tứ. Phải chăng ân tứ ĐTL cũng như vậy? Chỉ cần mở ra là sử dụng liền cách thành công, mãn nguyện? KT không dạy chúng ta như vậy.
Ân tứ ĐTL cũng cần có sự tập tành. Hễ càng dùng ân tứ càng trở nên hữu dụng hơn. Ít dùng ngày cũng sẽ giảm dần hiệu quả rồi với thời gian sẽ mất đi. Có tín đồ hỏi: tại sao tôi không có ân tứ ĐTL? Câu hỏi đúng hơn là quí vị có làm gì hay không? Nếu không làm, không tập làm thì sao biết ân tứ Chúa ban cho?
Sinh sống trong thành phố và tiểu bang này chúng ta chắc không thể không nghĩ đến sa mạc. Hình ảnh sa mạc tượng trưng cho sự khô cằn, lặng lẽ, tương phản với sự xanh tươi của những nơi có nước, nơi đất tốt. Nhưng ĐCT dùng sa mạc để huấn luyện người hầu việc Ngài và cả dân sự Ngài. Ân tứ, lắm lúc chỉ được ban cho một người sau khi họ trải qua thời gian thử thách, khó khăn, lặng lẽ. Tại sao? Vì qua thời gian đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về mình và về ĐCT.
Mô-se, dù là hoàng tử lớn lên trong triều đình Ai-cập nhưng ĐCT để ông trong sa mạc 40 năm trời làm người chăn chiên vô danh. Đa-vít, sau khi giết người khổng lồ Gô-li-át, trở nên anh hùng dân tộc, con rễ vua Sau-lơ, bạn chí thân hoàng tử Jonathan. Nhưng chỉ sau gần 15 năm chạy trốn nơi đồng vắng, trong hang động, ĐCT mới dùng ông là vua của xứ. Ngay cả 12 sứ đồ, 3 năm theo Chúa, phạm nhiều lỗi lầm sau khi Chúa chết, rồi mới trở thành những trụ cột của hội thánh đầu tiên. Chính Phao-lô cũng vào sa mạc trong khoảng 3 năm trời trước khi ông bắt đầu các cuộc truyền giáo và viết các lá thư.
Thường thì chúng ta muốn nhận ân tứ, nhưng từ chối thời gian huấn luyện, tập tành. Sa mạc nhằm để dạy tôi và quí vị về điều quan trọng nhất trong đời sống đức tin: quan hệ với Chúa. Quan hệ với Chúa quan trọng vô cùng bởi vì chúng ta không cần nhiều thứ trong sa mạc để sống. Tuy nhiên chúng ta cần Chúa. Nếu có Chúa trong đời sống, có quan hệ với Ngài thì sẽ được ân tứ.
Người nghĩ mình có ân tứ nhưng không có quan hệ gần gũi với Chúa và không được thử luyện chắc sẽ trở nên kiêu ngạo, tự phụ và sẽ dùng ân tứ cách sai lầm, thậm chí nguy hiểm.
Trong câu chuyện ngụ ngôn ta-lâng trong Ma-thi-ơ 25:14-30 và Lu-ca 19:12-27, ĐCJC muốn dạy chúng ta điều gì? Không phải một người có bao nhiêu ta-lâng nhưng họ làm gì với ta-lâng chủ giao phó. Có người được giao phó 5 ta-lâng, người được 2, người được 1. Tuy nhiên chủ muốn mọi người đều đầu tư để sinh ra lợi. Ân tứ ĐTL ban cho cũng trở nên vô dụng nếu chúng ta không tập tành và sử dụng nó.
NHỚ GÌ VỀ NGƯỜI VÀ ĐỜI?
66 sách trong KT viết về hằng trăm, ngàn nhân vật. Nhiều nhân vật dù sống cách đây hằng ngàn năm, nay vẫn được thế gian nhắc đến như mỗi ngày, đặc biệt trong xã hội Tây phương như tại HK. Khi nghi ngờ người ta nói đến Thô-ma, nghi ngờ như Thô-ma. Khi trải qua những hoạn nạn, khổ đau vô cớ, người ta nhắc đến Gióp, kiên nhẫn như Gióp. Khi gặp những khó khăn, trở ngại, những nghịch cảnh tưởng như không thể nào vượt thắng được, người ta nhắc đến Đa-vít, Đa-vít và Gô-liát (mới đây một tác giả nổi tiếng tên là Malcom Gladwell ra một quyển sách có tựa đề này với phụ chú David and Goliath: Underdogs (người bị thua), misfits (người không thể hoà nhập), and the art of battling giants). Gặp người thông minh, xuất chúng, chúng ta nói họ khôn ngoan, thông minh, sáng suốt như Sô-lô-môn, thông minh như vua Sô-lô-môn.
Cuộc đời, tên tuổi và tiếng tăm của những nhân vật này gắn liền với hoặc tính hạnh của họ (nghi ngờ, rộng rãi, keo kiệt, hiền hòa, độc ác) hay công việc họ đã để lại cho đời này (lãnh đạo như Mô-se, tiên tri như Giê-rê-mi, truyền giáo như Phao-lô). Điều quan trọng chúng ta cần chú ý là tất cả những nhân vật này được khen ngợi hay cáo trách, đề cao hay khinh bỉ, không phải bởi vì những gì họ nhận được, có được nhưng từ những gì họ để lại, hay lấy đi.
Mô-se, dù là lớn lên trong triều đình Ai-cập nhưng ngày nay không ai nhớ đến ông như hoàng tử Ai-cập nhưng là một lãnh đạo của dân sự Chúa trong đồng vắng 40 năm. Đa-vít, dù là một thanh niên chăn chiên, nhưng chúng ta nhớ đến ông như một người yêu mến và tin cậy ĐCT với tất cả linh hồn, trí tuệ, sức lực. Phierơ, Giăng, không ai nhớ đến họ là những người đánh cá nhưng là những người sứ đồ của ĐCJC, hy sinh cả đời sống để nói về ĐCJC, về tin lành.
Chắc chắn không ai nhớ đến những gì chúng ta có trong đời sống này nhưng những gì chúng ta để lại cho đời.
