Hai Đứa Con Lạc Lối
Đây là đoạn KT quen thuộc và được rất nhiều người biết đến, ngay cả những người không tin Chúa. Thường thì câu chuyện này được gọi là câu chuyện của người con trai hoang đàng. Nhưng chuyện bắt đầu với lời: Một người kia có hai con trai. Đúng hơn đây là câu chuyện của hai người con. Chuyện của hai anh em. Dụng ý của ĐCJC là để chúng ta có thể so sánh, tương phản hai anh em. Nếu không so sánh như Chúa đã so sánh thì e chúng ta không hiểu được ý nghĩa của câu chuyện vô cùng quan trọng này.
[Nhắc lại mục đích và đối tượng của ba câu chuyện ngụ ngôn này] Cả ba câu chuyện ngụ ngôn trong Lu-ca 15 đều có ba điểm giống nhau: 1) Cả ba đều nói về sự lạc mất; 2) Cả ba đều nói về sự tìm lại được; 3) Cả ba đều nói về tiệc mừng sau khi tìm lại được.
Điều ĐCJC dạy qua ba câu chuyện ngụ ngôn, đặc biệt là câu chuyện hai con trai này không thể tìm thấy trong bất kỳ một tôn giáo nào, dù Đông hay Tây Phương, dù cũ hay mới, dù đơn giản hay phức tạp. Mọi suy nghĩ, niềm tin vào cách thức để đến với Thượng Đế, Ông Trời, ĐCT đều hoàn toàn khác biệt với lời dạy của ĐCJC. Niềm tin của con người là để đến với Trời, để được Trời chấp nhận thì họ phải chứng minh qua việc lành, việc thiện, việc tốt. Để khỏi hiểu lầm, tôi xin nhấn mạnh là KT dạy rất rõ về sự quan trọng của việc làm tốt, của một đời sống thiện của người tin Chúa. Có khác chăng là KT dạy con người không thể đến với ĐCT bằng việc tốt, đời sống gương mẫu. Lý do rất đơn giản: bởi vì mọi người đều phạm tội, dù có cố cho đến mấy!
Câu chuyện gồm hai phần. Phần 1 về đứa con nhỏ, đứa em. Phần 2 về người con trưởng, người anh cả. Phần 1 có thể được gọi là “đứa em lầm lạc”, phần 2 là “người anh lầm lạc”. Đối tượng của phần 1 câu chuyện là những người thu thuế và những người có tội. Đây là những người phạm tội, biết mình phạm tội, xấu hổ vì tội; chính vì vậy họ mới đến với ĐCJC để nghe lời Ngài dạy về nước Trời. Đối tượng của phần 2 câu chuyện là những người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật, là những người có đời sống tưởng như hết sức đạo đức, cố gắng giữ luật pháp và hãnh diện về đời sống gương mẫu. Đây là những người có tội, không những không biết mình có tội nhưng lại còn hay so sánh mình với bọn tội lỗi kia.
Chuyện bắt đầu với lời của người con nhỏ, người em nói với cha: Thưa cha, xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được (12). Khi đọc bản dịch cũ chúng ta nghĩ người con này lễ phép với cha, nhưng thật sự trong bản gốc tiếng Greek thì đơn giản là “Cha cho tôi phần thuộc về tôi.” Chắc chắn những người nghe Chúa kể đến đây rất ngạc nhiên và tức giận, nhất là những người Pha-ri-si và chuyên gia kinh luật. Bởi vì của chỉ được chia khi cha qua đời. Hỏi chia của khi cha còn sống là một việc ngang tàng, bất hiếu, như muốn cha mình chết đi để mình được của. Ngay cả người Việt chúng ta, con cái cũng không dám làm như đứa con này!
Khi nghe điều này, cha có toàn quyền và đủ lý lẽ để trách mắng, trừng phạt đứa con bất hiếu, tham lam, ngỗ nghịch này. Nhưng thay vì làm như vậy, điều vô cùng ngạc nhiên KT viết: Người cha liền chia của mình cho hai con. Chú ý cha chia của cho cả hai con, em nhỏ và anh cả. Anh cả được 2 phần, em nhỏ được 1 phần theo truyền thống và luật lệ. Chúng ta sẽ trở lại điều này trong phần 2 của chuyện khi nói về người anh.
Người con nhỏ, đứa em nói với cha: tôi chỉ muốn của cải của cha; quan hệ, tình cảm với cha, với anh không quan trọng. Hai điều chính đứa con này nghĩ có lẽ là: 1) Quan hệ cha con chỉ là một phương tiện để được điều mình muốn; 2) Thế giới bên ngoài mới đem đến sự vui thỏa cho đời mình. Tôi chắc mỗi qv đều có thể liên hệ đến 2 điều này khi lớn lên. Cha mẹ là ngân hàng, trương mục, là ống heo đầy tiền, là đất ruộng, tài của. Khi cần tiền thì còn cần cha mẹ. Khi không cần thì vài ba tuần, vài ba tháng mới gọi điện thoại một lần để thăm! Cũng vậy đối với ĐCT, cầu nguyện là đường giây nóng để hỏi xin cho những việc khẩn cấp, cần thiết. Nhưng khi được rồi thì gác máy để đó cho đến khi việc khác xảy đến.
Và có ai khi lớn lên lại không có ý nghĩ này: cuộc sống trong nhà chán ngắt, cuộc sống bên ngoài mới thật sự vui thỏa. Điều đứa con này nghĩ trong trí là chỉ muốn được tiền rồi ra khỏi nhà, để thoát ly một cuộc sống bó buộc, khuôn khổ. Nhà tù túng, gò bó, chán chết. Nhưng bên ngoài! Ồ, đời sống thực chỉ có thể tìm được bên ngoài gia đình, khi không có anh, không có cha, khi chỉ một mình mình, muốn làm gì thì làm, sống sao thì sống, ai nói gì mặc ai. Còn ở nhà thì nghe hết lời dạy này đến bài học khác muốn rớt lỗ tai!
KT dùng một từ rất đặc biệt nói về của chia. Từ đó là bios. Biology, hay sinh học, từ gốc chữ này. Bios không phải là bất động sản, của cải vô tri nhưng là vật có sự sống, có cảm giác. Một bản dịch Anh ngữ dùng từ livelihood, có nghĩa là phương tiện sinh sộng Khi dùng từ này, KT hàm ý rằng khi chia của, cha chia cho 2 con một phần của đời sống cha, là ruộng đất. Cha phải bán đất đai để chia của. Người Việt Nam chúng ta hiểu rất rõ điều này: cuộc sống của người làm nghề nông gắn liền với ruộng đất. Ngày xưa mọi người đều mong có được một miếng đất, một miếng ruộng. Đất và người gắn bó với nhau. Vậy khi cha phải bán đất để chia của tức là cha phải đau lòng, bấm bụng khi nhìn ruộng đất của mình nay thuộc về người khác.
Thường khi đọc chuyện chúng ta không hề nghĩ đến nỗi khổ đau, khó khăn của người cha khi phải bán đi đất đai mà chia của cho hai con khi mình vẫn còn đang sống. Vậy đó mà người cha vẫn một mực, trọn lòng, luôn luôn yêu thương đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch này.
Rồi con làm gì? Câu 13: Cách ít ngày, người em tóm thâu hết, đi phương xa, ở đó, ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình. Nơi phương xa không ai biết mình, muốn sống, muốn làm gì mình thích cũng không ai biết. Phương xa đó trong trí của đứa con lúc ra đi là nơi đầy hứa hẹn về một cuộc sống thỏa mãn, vui sướng, hạnh phúc. Nó làm gì nơi phương xa? Ăn chơi hoang đàng rồi tiêu sạch tiền của! Dĩ nhiên trong thời gian ăn chơi hoang đàng, đứa con này vui lắm, thỏa mãn, sung sướng, hạnh phúc lắm. Tội lỗi, đời sống tội lỗi luôn đem lại thỏa mãn về xác thịt; bằng không thì không ai phạm tội cả.
Khi quay cuồng trong cuộc sống hoang lạc đó thì không ai muốn nghĩ đến ngày mai, huống chi đến gia đình. Nhưng khi hết tiền của thì cái bong bóng trước bay cao nay mất hơi bắt đầu xẹp xuống rồi rơi xuống đất. Qv chắc có nghe câu thơ: Còn bạc còn tiền còn đệ tử. Hết cơm hết gạo hết ông tôi! Khi hết của, hết tiền thì người đẹp trước đó bu quanh tâng bốc không còn nữa, bạn bẤy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi; ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa.è cùng nhậu cũng không thấy đâu.
Lần đầu tiên khi chuẩn bị bài giảng này tôi mới chú ý một điều: KT viết rất ngắn gọn về thời gian và hành động của người con hoang đàng nơi phương xa. Tôi suy nghĩ và tự hỏi về điều này và nghiệm ra lý do: bởi vì đây không phải là trọng tâm của câu chuyện Chúa kể. Trái lại khi nói về đứa em bỏ nhà ra đi, thì người anh, dù ở nhà, dù không biết rõ, lại nghĩ đến những chi tiết. KT viết trong Ê-sai 43:25: Ấy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi; ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa. Chỉ có chúng ta mới tưởng tượng và ghi nhớ tội xưa của người.
Đứa con trai hoang đàng này lấy của rồi bỏ nhà ra đi phương xa. Một câu chuyện có thật kể về một phụ nữ có gia đình, chồng con, đời sống êm ấm. Một ngày bà bỏ nhà ra đi, để lại cả con nhỏ. Chồng cố công, cố sức tìm kiếm từ tháng này qua năm nọ. Cuối cùng một người bạn của gia đình khi đi nghĩ mát tại Haiwaii thì thấy người vợ trong một tiệm kem. Không phải ăn kem như du khách nhưng làm trong tiệm kem đó! Khi hỏi tại sao bà lại bỏ gia đình ra đi, bà trả lời: tôi muốn đi tìm con người thật của tôi (I want to discover my true self!)
Dù nặng lỗi với gia đình, người phụ nữ đó còn có can đảm để ra đi tìm con người thât. Nhưng lắm khi chúng ta không bỏ nhà đi đến phương xa, nhưng chúng ta bỏ nhà ra đi trong trí. Trong suy nghĩ chúng ta thì gia đình là nơi tù túng, ràng buộc. Hôn nhân là căn nhà tù túng, bó buộc, ngộp thở. Hội thánh là căn nhà tù túng, gò bó, đầy luật lệ. Chúng ta không dám bỏ đi nhưng trong trí, trong con tim, chúng ta thèm muốn, khao khát được ra đi, thoát ly, giang hồ để tìm cho mình hạnh phúc thật! Mọi người đều mơ tưởng rằng hạnh phúc thật sự không có nơi mình đang sống nhưng ở bên ngoài, nơi phương xa nào đó.
Rồi điều gì xãy ra với người con hoang đàng? Câu 14-15: Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn; nó mới bị nghèo thiếu, 15 bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo. Cơn đói lớn xảy đến! Đây là điều ngàn đời đứa con hoang đàng không bao giờ nghĩ đến. Trước đó trong trí nó, phương xa là nơi lý tưởng, nơi đem lại ý nghĩa, mục đích, hạnh phúc cho đời sống. Giờ nạn đói, nạn đói lớn lại xảy ra. Làm sao anh biết trước được điều này? Trong cảnh ngộ nghèo khó, khốn cùng đó, phải đi làm mướn cho người, phải đi chăn heo ngoài đồng! Mơ ước nay hoàn toàn tan vỡ. Thực tế đời sống thật phủ phàn, chua chát, cay đắng. Luật pháp Mô-se dạy rằng heo là loài cấm ăn, loài không sạch. Một người Giu-đa mà phải đi chăn heo thì thật là xuống nơi quá thấp. Xấu hổ, nhục nhã biết bao nhiêu! Nhưng chưa hết câu 16 cho biết: Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho. Đói đến nỗi muốn ăn đồ của heo cũng không được.
Bao nhiêu điều chúng ta dự tính cho mình nhưng rồi một biến cố, một sự việc bất ngờ xảy ra, phá tan mọi ước mơ, dự tính. Qv có thể nói rằng mình kiểm soát được, làm chủ được mọi việc xảy ra trong cuộc đời này hay không? Ai dám nói như vậy? Chính vì vậy mà người Việt chúng ta có câu: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. KT dạy: Lòng người có nhiều kế hoạch, Nhưng ý định của CHÚA mới được thành tựu. (CN 19:21)
Đến lúc khốn khổ, nhục nhả đến tận cùng, khi ở trong hoàn cảnh bế tắt, không còn lối thoát, đứa con này mới tỉnh ngộ. Như một người ngủ say trong cơn ác mộng giật mình thức dậy, đứa con hoang đàng tỉnh giấc. Tỉnh ngộ gì? Câu 17-19 - BDM: "Bao nhiêu kẻ làm thuê của cha ta đều có bánh ăn dư dật, mà nơi đây ta lại đang chết đói. 18 Ta sẽ đứng dậy đi về với cha ta và thưa: "Cha ơi, con đã phạm tội với Trời và với cha, 19 không đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha coi con như là một người làm thuê của cha.
Câu 18-19 nói lên ý thức về tội nặng của anh cùng Trời và cùng cha, ý thức rằng nó chẳng ra gì, chẳng đáng để được nhận lại làm con. Câu 20 là một câu rất quan trọng: Rồi nó đứng dậy, trở về với cha mình. Quá trình tỉnh ngộ ra sao? Trước hết ăn năn về tội lỗi đã phạm. Ý thức rằng tôi chẳng có thể làm gì để chuộc lại tội này, không đáng gọi là con của cha nữa. Nhưng tỉnh ngộ phải đưa đến quyết định, quyết định rồi phải sinh ra hành động. Một số qv đây có thể nghĩ rằng tôi đã quá xa Chúa, tôi đã phạm quá nhiều tội lỗi nên không thể nào trở lại với Chúa được. Qv nhìn xem đứa con hoang đàng này mà can đảm trở về lại với ĐCT.
Khi đứa con hoang đàng trở về thì tiền của không còn, quần áo dơ bẩn, thân thể mệt mỏi, rã rời, hôi hám. Nói cách khác nó hoàn toàn, thật sự hoàn toàn không còn gì để có thể khoe khoang, tự hào, trái lại chỉ có túi không, tâm hồn tan vỡ, hối hận. Chỉ mong được cha nhận lại dù như một người đầy tớ, một người làm công. Chúng ta thường nghĩ tự do thật là khi ra khỏi nhà Chúa, khỏi ràng Chúa. Nhưng đâu biết rằng khi ra khỏi ràng Chúa thì chúa của đời này là Sa-tan sẽ tìm mọi cách để kéo chúng ta ngày càng xa ĐCT hơn.
Phần 2 câu 19: Nhưng khi nó còn ở đàng xa, người cha thấy nó thì động lòng thương xót, liền chạy ra ôm cổ nó mà hôn. Người cha chạy ra. Thời đó cha không chạy. Chỉ có vợ, con cái, đầy tớ, hay người làm công mới chạy. Cha phải giữ tư cách, thể diện, chỉ đi chậm rãi, không chạy. Cha chạy đến con và bất kể mùi hôi, bất kể người ta nhìn thấy, xì xầm ôm cổ con à hôn. Và trước khi con dứt lời, chỉ kịp nói phần đầu trong câu 21: Cha ơi, con đã phạm tội với Trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa, chưa đến phần cuối không đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha coi con như là một người làm thuê của cha¸thì cha đã kêu đầy tớ nào đem áo dài đẹp nhất, đeo nhẫn vào tay, mang dép vào chân. Và bắt con bò mập làm thịt để ăn mừng đứa con hoang bỏ nhà ra đi, hoang phí hết tài của, nay trở về. Không trách móc, “ba đã nói với con bao nhiêu lần mà vẫn không nghe…”
Đứa con hoang đàng không đáng được nhận lại, lại được hồi phục quyền làm con. Chính cha phải là người phục hồi lại trọn quyền làm con cho anh. Nhẫn đeo tay xác nhận sự hồi phục trọn quyền hạn của đứa con trong gia đình, đứa con mang tên cha. Không phải chỉ một phần, vài phần, nhưng trọn phần. Nhưng tiệc mừng? Tiệc mừng cho một đứa con bất hiếu, ương ngạch, hoang đàng bỏ đi rồi vì quá khổ, đến đường cùng, không còn biết cậy vào ai nên buộc trở về? Ai trong tôi và qv có thể làm được điều này? Chỉ nhìn thấy đứa con tơi tả, áo quần thảm thương, người hôi thối cũng đủ để chửi mắng mấy ngày, mấy tuần.
Qv có thấy, có hiểu ĐCJC muốn nói gì không? ĐCT của chúng ta là một Đấng vô cùng nhân từ, giàu lòng thương xót, sẵn lòng tha thứ cho tội nhân. Ngài thánh khiết, không chấp nhận tội lỗi nhưng chấp nhận tội nhân ăn năn thật sự quay về. Trong hai chuyện ngụ ngôn đầu đều có phần cả bè bạn, hàng xóm đều được mời đến để chung vui; và cả thiên sứ trên trời cũng vui mừng, nhảy múa.
Không chỉ mổ bò để đãi tiệc, nhưng còn có đàn ca, nhảy múa. Tiệc lớn, big party. Quan khách hỏi: lý do gì ông đãi tiệc này? Người cha trả lời đơn giản: vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà tìm lại được. Qv đãi tiệc, mời gọi bè bạn khi con đậu bằng cử nhân, bác sĩ hay trở thành manager, làm chủ công ty lớn. Nhưng ĐCT lại đãi tiệc lớn khi một người có tội ăn năn quay về, con đã chết mà nay sống lại, đã mất mà tìm lại được. Có tôn giáo nào, phật chúa nào, có đấng từ bi, đại xá nào có thể nói với tôi và qv như ĐCT của KT qua câu chuyện do chính Ngôi Hai hiện thân kể?
NGƯỜI ANH LẠC LỐI
Câu 25 chuyển sang phần 2 của chuyện ngụ ngôn này về người con cả, người anh: Vả, con trai cả đang ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa, 26 bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì. 27 Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khỏe. 28 Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào.
Có lần tôi kể chuyện ngụ ngôn này cho một sinh viên từ Trung Hoa sang học tại UNM. Khi nghe người cha làm tiệc đãi đứa con hoàng đàng trở về thì anh hết sức bức súc, hoàn toàn phản đối việc làm của người cha. Rồi đến phần này của chuyện thì anh nói với tôi rằng: người con cả nổi giận là phải. Chính anh cũng không muốn vào nhà vì người cha không công bình. Lý do anh nghĩ người cha không công bình? Vì nghĩ rằng người con cả, người anh trưởng là một người mẫu mực, đạo đức, không như đứa em hư hỏng, hoang đàng kia. Người anh mới thật là người đáng cho cha đãi tiệc ăn mừng.
Khi thấy con cả không vào nhà, cha phải ra ngoài khuyên con vào. Câu 29-30: Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi. 30 Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập!
Con cả nói với cha rằng trong nhiều năm qua, anh đã làm việc cho cha và chưa từng trái phép cha. Anh là một người con gương mẫu và chính anh biết rõ điều này. Cha cũng biết rõ điều này. Nhưng phần 2 của câu 29 và câu 30 cho chúng ta thấy được một phần suy nghĩ bên trong của đứa con này. Anh trách cha chưa bao giờ cho anh một con dê (huống chi bò tơ cha làm thịt đãi em!) để ăn chơi với bạn hữu tôi.
Trong tâm lý học có một nhân vật hết sức nổi tiếng tên Sigmund Freud là cha đẻ của một môn tâm lý học gọi là psychoanalysis (phân tích tâm lý). Trong ngôn ngữ HK hôm nay có một từ mang tên ông là Freudian slip để nói về những lời buộc miệng, những cử chỉ, hành động nằm sâu trong tiềm thức thình lình lỡ thốt ra, bày tỏ ra ngoài dù thật sự không muốn cho ai biết những suy nghĩ hay lời nói, hành động đó. Lời của con cả cùng cha có thể gọi là Freudian slip, hay suy nghĩ thật đã dấu kín, đè nén trong lòng bao nhiêu năm đến hôm nay mới có dịp để nói ra.
Có thể trong tâm trí, trong ước nguyện thật sự của anh thì công việc làm cho cha, việc vâng lời cha trong mọi sự là điều anh không hề muốn làm. Phải làm, bắt buộc làm để không mang tiếng bất hiếu, mang tiếng ngỗ nghịch nhưng thật lòng thì anh cũng muốn bỏ đi như đứa em kia. Anh cũng muốn được ăn chơi cùng bè bạn như đứa em kia. Biết đâu anh cũng muốn la cà đến khu có phường đí điễm như đứa em kia (dù thật sự đây chỉ là lời lên án mà không có bằng chứng).
Nếu người con cả thật sự thương cha, thương em thì khi em bỏ đi sẽ nói với cha anh: Cha đừng lo, con sẽ đi tìm em và sẽ mang nó về để gia đình mình được sum họp lại như xưa. Trái lại trong lòng anh ghen tị, ghét giận em và luôn cả cha. Qv có nhớ câu chuyện của Áp-ra-ham và Lót trong STK 14? Dù sau khi Lót tự tách ra khỏi chú và chọn cho mình một vùng đất lý tưởng để ở, Áp-ra-ham vẫn không hề trách móc, cay đắng cháu. Trái lại khi Lót và gia đình bị giặc bắt đi, Áp-ra-ham dùng chính thuộc hạ của ông, không ngại nguy hiểm đến chính tính mạng mình trên chiến trận mà đi cứu cháu và gia đình.
Dù không bỏ nhà cha đi qua hành động nhưng trong tư tưởng, tâm trí, trong tận sâu kín nhất của đáy lòng, anh đã bỏ nhà cha đi từ lâu rồi. Thân, người ở đây nhưng lòng ở nơi phương xa, nơi anh có thể hoàn toàn ăn chơi cùng bè bạn. Đây là cũng là ý của lời ĐCT dạy trong bài giảng trên núi: một người có thể tuân theo luật pháp, giữ trọn những điều trong luật đó nhưng ĐCT không chỉ nhìn vào bề ngoài để đánh giá, xử đoán con người. Vì ta phán cho các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng. 21 Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. 22 Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán (Ma-thi-ơ 5:20-22)
ĐCJC cũng nói rất rõ rằng sự công bình của các thầy thông giáo, chuyên gia kinh luật, người Pha-ri-si không đủ để được vào nước thiên đàng. Và theo lời Chúa dạy thì người anh cũng đáng bị tòa án xử đoán vì ghét em mình, giận cha mình! Hình ảnh của người con cả, người anh chính là hình ảnh của những người, khi nhìn bề ngoài tưởng như hết sức đạo đức, nhưng suy nghĩ, ước muốn, sở thích trong lòng không khác gì những người bỏ nhà đi phương xa, ăn chơi trác táng, tiêu sạch tiền của. Cả hai loại người như đứa em và người anh đều phạm tội. Có khác chăng chỉ qua hình thức, sự bày tỏ, sự che đậy.
Nhiều khi những người nghĩ mình là người đạo đức lại rất khó trở về cùng cha, khó tin nhận Chúa. Qv hỏi tại sao? Hai lý do: 1) Họ nghĩ họ đã làm đủ các việc tốt như đứa con cả nghĩ mình đã làm mọi điều cho cha. 2) Họ nghĩ họ không muốn sống chung, vui mừng chung với những người có tội. Tại sao một người đạo đức, gương mẫu như tôi phải đến dự tiệc của người hoang đàng, đã bỏ nhà ra đi, ăn chơi với phường đĩ điếm!
Tôi muốn nói điều này trong tình yêu thương và lòng chân thành. Lắm khi chính những người tín đồ trong hội thánh là người anh cả đó. Như người con cả nói với cha: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, chúng ta nói với Chúa: con đã làm công việc Chúa bấy nhiêu năm nay, chưa từng trái phép. Con đã vâng giữ các điều răn, lời Chúa dạy, đủ cả. Rồi khi có người tội lỗi vào hội thánh tin Chúa, chúng ta tức giận khi thấy Chúa ban phước cho họ. Chúa sao không công bằng, sao không đãi tôi vì tôi vâng giữ lời Chúa, làm việc Ngài?
Lời của người cha với con cả trong câu 31-32 cũng là lời của Chúa cho những người tín đồ buồn giận, ghen tức: Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con.32 Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
Con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con! Vấn đề là tín đồ quên điều này mà chỉ nhìn, chỉ nghĩ về những điều Chúa ban cho người anh chị em mình. Qv có biết người anh cả thật sự là ai không? Chính là ĐCJC. Khi tôi và qv như đứa em, đứa con hoang đàng, ngu dại, đam mê cuộc đời mà lấy hết gia tài rồi bỏ nhà cha ra đi theo tiếng gọi của thế gian, của một phương xa hào nhoán nào đó thì ĐCJC rời nhà Cha để đi tìm, tìm, tìm cho đến khi tìm được đứa em tội lỗi, bất hiếu, ngỗ nghịch đó. Không chỉ đi tìm nhưng chính Ngài còn chịu trả giá hết sức đắt, giá của chính huyết Ngài, giá của những nhục nhã Chúa mang để đem đứa con hoang đàng trở về cùng Cha.
Chúa nói cùng các môn đồ và đoàn dân đông trong Giăng 10:17-18: Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta phó sự sống mình để được lấy lại. 18 Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta. Người anh cả không buộc phải bỏ tất cả để ra đi tìm em. ĐCJC tự nguyện rời thiên đàng, xuống thế gian để tìm cứu tội nhân, cứu cả đứa con hoang đàng, đứa em bất hiếu, lẫn người con cả vâng phục bên ngoài nhưng cay đắng trong lòng, cứu cả phường thu thuế, người có tội và cả những người Pha-ri-si cùng các chuyên gia kinh luật.
