Được Tạo Theo Hình Đức Chúa Trời
Bài giảng hôm nay là về một niềm tin, giáo điều vô cùng quan trọng của đạo Chúa, nhưng ít khi được nói đến: con người được Đức Chúa Trời sáng tạo theo hình Ngài. Thường thì tôi chia sẻ đề tài này trong nhiều bài giảng nhưng vì thời gian giới hạn nên tôi chỉ chia sẻ một phần của niềm tin quan trọng này trong bài giảng hôm nay. Chúng ta cùng đọc chung với nhau STK 1:26-27 theo BHĐ: 26Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.” 27Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ.
Đây là sách chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời; 2 Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ (5:1) 6 Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Đức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài. (9:6)
Bốn phần trong bài giảng: 1) Quan trọng của sự sáng tạo theo hình ĐCT; 2) Ý nghĩa của sự sáng tạo theo hình ĐCT; 3) Tội lôi phá vỡ hình ĐCT trong chúng ta; 4) Sự hồi phục, tái tạo hình ĐCT trong chúng ta. Tuần lễ này tôi sẽ chia sẻ hai phần đầu và tuần tới 2 phần cuối.
QUAN TRỌNG CỦA SỰ SÁNG TẠO THEO HÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI
Sách đầu tiên của KT là STK viết về sự sáng tạo của ĐCT. ĐCT sáng tạo vũ trụ bao la mênh mông với hàng tỉ tỉ dãy ngân hà, với vô số hành tinh, thiên thể trong vũ trụ mênh mông đó. ĐCT sáng tạo trời đất, sông biển cùng các loài sinh động vật trên trời, trên đất và dưới đất. ĐCT sáng tạo những sự vật này thế nào? ĐCT phán thì sự vật hiện hữu.
Tuy nhiên sự mênh mông, không cùng tận của vũ trụ, sự bao la, sâu thẳm của trời đất, biển cả, sự kỳ diệu của các loài sinh động vật trên trời, dưới đất, sông biển không phải là đỉnh cao của sự sáng tạo của ĐCT. Đỉnh cao của mọi sự sáng tạo vô cùng kỳ diệu, mầu nhiệm từ một ĐCT toàn năng là con người. Vương miệng sáng chói nhất, đẹp đẽ nhất, đáng quí trọng nhất, giá trị nhất so với tất cả mọi sự vật khác trong sự sáng tạo của ĐCT là con người.
3 Khi tôi nhìn xem các từng trời là công việc của ngón tay Chúa,
Mặt trăng và các ngôi sao mà Chúa đã đặt,
4 Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến?
Con loài người là chi, mà Chúa thăm viếng nó?
5 Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút,
Đội cho người sự vinh hiển và sang trọng.
6 Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm (TT 8:3-6)
KT viết như sau: 26Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất. 27Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ. (STK 1:26-27)
3 lần đoạn KT này lập lại một ý vô cùng quan trọng: con người được sáng tạo theo hình ảnh ĐCT. Trong tất cả các vật được sáng tạo, chỉ có con người được tạo trong hình của ĐCT. Lời dạy này có những ý nghĩa vô cùng sâu sa, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong đời sống con người: phẩm giá hay giá trị con người; nhân quyền – như quyền tự do, bình đẳng; quan hệ - hôn nhân, gia đình, giữa người và người trong xã hội; khả năng lý luận, sáng tạo và dự tính của con người.
Chỉ khi tạo dựng loài người Chúa mới dùng từ chúng ta, tức số nhiều. Không phải Ta nhưng là Chúng Ta. Điều này có nghĩa gì? Qv chắc có nghe về một niềm tin đặc thù của Cơ Đốc Giáo (Christianity) là Ba Ngôi ĐCT. ĐCT cùng một bản chất nhưng gồm ba thân vị: ĐCCha, ĐCJC và ĐTL. Ba Ngôi ĐCT hay theo hình ĐCT không phải là những giáo điều, niềm tin trừu tượng, xa rời thực tế nhưng liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Vì thời gian, tôi không thể giải thích về niềm tin này. Tuy nhiên tôi có thể giải thích về một thể hiện cụ thể của niềm tin này: quan hệ, tình yêu thương.
Người Cơ Đốc tin ĐCT là tình yêu thương bởi vì từ đời đời vô cùng cho đến đời đời vô cùng, dù ĐCT là một trong bản thể nhưng hiện hữu trong ba thân vị (ngôi vị), ba ngôi ĐCT đã có quan hệ, tình yêu thương và hiệp một trọn vẹn. Vậy lời dạy con người được ĐCT sáng tạo theo hình Ngài có nghĩa gì và có áp dụng cụ thể gì? Ba lãnh vực và áp dụng trong đời sống nói lên tầm quan trọng của sự sáng tạo theo hình ĐCT. 3 lãnh vực này từ nhỏ đến lớn, từ cá nhân cho đến những người chung quanh chúng ta và cuối cùng cho cả xã hội, thế giới.
Lãnh vực thứ nhất là cá nhân. Áp dụng là sự tự nhận thức về chính bản thân (self-image), sự tự trọng. KT dạy bất kỳ một người là ai, đến từ đâu, làm gì, bất kỳ quá khứ, hiện tại thế nào, đều được sáng tạo theo hình ĐCT, đều phản ánh ĐCT. Vì được sáng tạo theo hình ĐCT nên mỗi người, mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giống người, không phân biệt giàu nghèo, bất kỳ thuộc tầng lớp nào trong xã hội, dù là tù phạm hay tổng thống, dù tật nguyền hay lành lặn, dù xấu xí hay đẹp đẽ như minh tinh, hoa hậu, đều có cùng một giá trị nội tại, một chân giá trị, đều phản ánh một phần vinh hiển của ĐCT. Không luật pháp nào, không chế thể, chính quyền, tập đoàn nào có thể cướp lấy đi giá trị nội tại và phản chiếu vinh hiển này của một cá nhân. Đây chính là nền tảng chắc chắn nhất, cụ thể nhất của lòng tự trọng.
Tự trọng là xem trọng chính bản thân, cá nhân mình. Không ai đổi một điều gì chúng ta trân trọng, quí báu để đổi lấy điều chúng ta xem rẽ, không giá trị, vật tốt lấy vật xấu, vật đắt tiền, vô giá để lấy vật rẽ tiền. Cũng vậy một người có lòng tự trọng không đổi chính mình cho những điều thấp giá trị hơn mình. Vì lòng tự trọng, một thiếu nữ không đổi trinh tiết mình vì áp lực của bè bạn, hay một lời ngon ngọt, hứa hẹn. Vì lòng tự trọng, một người không bán rẽ lương tâm, danh dự để dua theo số đông làm việc bất lương, lừa dối dù biết có thể kiếm tiền, làm giàu nhanh chóng.
Nhưng chúng ta hỏi lòng tự trọng, sự nhận thức, đánh giá đúng đắn về bản thân mình đến từ đâu, từ nền tảng gì? Nếu lòng tự trọng của con người không đến từ hình ĐCT thì sẽ đến từ đâu? Trong xã hội tại HK hay VN hôm nay, một người nghĩ mình có giá, “xịnh!” hoặc vì sắc đẹp, tài năng, hoặc thành tích đạt được hay sự thành công, giàu có, hay theo lý lịch nổi bật. Gia đình tôi danh giá, giàu có, bề thế; tôi tốt nghiệp trường đại học nổi tiếng; tôi có nhà cao, cửa rộng, nhà nghĩ mát ở Hawaii; tôi quen biết những người danh phận; mạng Facebook của tôi thường có vài ngàn clicks và likes!
Nếu đến từ sự giàu có thì chúng ta sẽ luôn luôn mặc cảm khi tiếp xúc với những người giàu có. Nếu đến từ sắc đẹp thì chúng ta sẽ luôn luôn mặc cảm, thấy tủi thân khi giao tiếp với một người xinh đẹp. Đây là lý do thanh niên, thiếu nữ hôm nay có biết bao nhiêu vấn đề với lòng tự trọng (self-esteem). Bởi vì họ xây nền tảng của lòng tự trọng trên những điều có đó rồi mất đó, những điều tạm bợ, chạy đuổi theo thời trang, theo trào lưu trong xã hội, số đông, như sắc đẹp, được chuộng, bao nhiêu click, like on social networks.
Nhưng vì mọi người đều được sáng tạo theo hình ĐCT nên dù giàu hay nghèo, dù đẹp hay xấu, mỗi người, mọi người đều mang một giá trị tự tại do chính ĐCT ban cho vì phản ánh một phần vinh quang từ ĐCT mà những yếu tố bên ngoài này không thể cướp đi hay thêm vào.
Một câu chuyện có thật: Một sinh viên y khoa vừa tốt nghiệp đang theo thực tập (residency) tại một bệnh viện. Anh là người tin Chúa (Christian). Thông thường một nhóm bác sĩ mới ra trường gồm cả người bác sĩ tin Chúa đó theo bác sĩ trưởng mỗi sáng để thăm viếng và chuẩn bệnh cho một số bệnh nhân. Đến một nữ bệnh nhân đang bị trầm cả rất nặng, họ thảo luận ca của bà. Người bác sĩ tin Chúa ngõ ý với bác sĩ trưởng và nhóm: “Một điều chúng ta có thể giúp bà là nhắc cho bà nhớ rằng bà có một giá trị tự tại mà không hoàn cảnh nào có thể lấy đi hay cướp mất được.” Nghe lời nay, bác sĩ trưởng lập tức phản bác: Làm sao anh biết bà ấy có giá trị tự tại? Chúng ta là bác sĩ, những người theo khoa học, y khoa. Y khoa dạy con người là loài động vật cao cấp, phức tạp hơn các loài động vật khác. Nhưng y khoa không hề nói rằng con người có giá trị hay nhân phẩm. Nên đừng đặt để những niềm tin bán tôn giáo hay tôn giáo vào y khoa! Người bác sĩ trưởng hoàn toàn đúng: bởi vì không có một bằng chứng khoa học, y khoa nào xác định giá trị tự tại, nền tảng của lòng tự trọng hay nhân quyền của con người.
Một triết gia nổi tiếng tên Bertrand Russell viết: "Chúng ta là sản phẩm của những nguyên nhân không có dự đoán về kết cục sẽ đạt được. Những hy vọng, nỗi sợ hãi, tình yêu và niềm tin của tâm trí chúng ta chỉ là kết quả của sự sắp xếp hoàn toàn ngẫu nhiên của các hạt nguyên tử.”
Cựu thẩm phán trưởng của tòa án tối cao HK và cũng là một nhà trí thức nổi tiếng trong thế kỷ 20 Oliver Wendell Holmes Jr. cũng xác nhận: "Tôi thấy không có lý do gì để gán cho con người một giá trị gì khác hơn giá trị của một con khỉ hay một hạt cát."
Không có lý do gì để cho rằng cuộc sống của chính con người có ý nghĩa hơn cuộc sống của loài côn trùng khiêm tốn nhất bò từ sự hủy diệt này sang sự hủy diệt khác.
Triết lý của người vô thần hoàn toàn phủ nhận giá trị nội tại, nói chi đến vinh quang phản chiếu từ ĐCT của con người. Một tóm tắt vừa mai mỉa, vừa khôi hài, nhưng ý nghĩa từ G.K. Chesterton:
Như một chính trị gia, một người thế tục (secular man) kêu than rằng chiến tranh là một sự lãng phí đời sống, và sau đó, với tư cách là một triết gia, rằng tất cả cuộc sống đều lãng phí thời gian. Một người thế tục sẽ tố cáo một cảnh sát giết một nông dân, và sau đó chứng minh bằng các nguyên tắc triết học cao nhất rằng người nông dân nên tự sát. Một người theo quan điểm này trước tiên đi đến một cuộc họp chính trị, nơi ông ta phàn nàn rằng những kẻ man rợ bị đối xử như thể họ là những con thú; Sau đó, ông ta lấy mũ và dù của mình và tiếp tục một cuộc họp khoa học, nơi ông ta chứng minh rằng thực tế họ là những con thú.
Lời dạy trong STK 1:26-27 hoàn toàn tương phản với những triết lý bi quan xem rẽ giá trị, hoài nghi hay phủ nhận nhân quyền con người. KT xác nhận mọi người được sáng tạo theo hình của Đấng Tạo Hóa, mang một giá trị tự tại cao quí, có cùng những nhân quyền, được sáng tạo để có quan hệ với ĐCT và với nhau. Có những bản dán sau xe nói cách nôm na: God does not make junk! ĐCT không tạo loài rác phế thải! Mỗi qv đều có giá trị dưới mắt Chúa đến nỗi Ngài hy sinh chính Ngôi Hai để xuống thế gian để chịu chết cứu tội cho qv.
Lãnh vực thứ hai, rộng hơn là quan hệ với người chung quanh. Áp dụng thứ hai liên quan đến việc sáng tạo theo hình ĐCT là qua cách chúng ta đối xử với những người chung quanh.
Vì ĐCT gồm 3 thân vị, 3 Ngôi nên trong Ngài đã có quan hệ, đã yêu thương nhau, đã có sự hiệp từ đời đời cho đến đời đời. Quan hệ, tình yêu thương này đã hiện hữu giữa Cha và Con và TL từ trước khi sáng thế, trước khi con người được sáng tạo. Đây chính là lý do KT viết: ĐCT là tình yêu thương (1 Giăng 4:8).
Nếu ĐCT chỉ là một thân vị thì làm sao có thể nói ĐCT là tình yêu thương. Bởi vì yêu thương phải có đối tượng. Chính vì ĐCT là tình yêu thương nên khi sáng tạo con người trong hình Ngài, con người mới khả năng yêu thương, mới có lòng khao khát được yêu thương, khao khát có quan hệ và duy trì quan hệ. Đây là một khác biệt quan trọng và chính yếu giữa niềm tin Cơ Đốc và các tôn giáo, triết lý khác.
Và nếu quan hệ, tình yêu thương giữa Ba Ngôi ĐCT từ đời đời cho đến đời đời không hề có sự chia rẽ, phân cách, nhưng tuyệt đối, trọn vẹn, thống nhất, hiệp một thì hễ càng giống hình ĐCT bao nhiêu thì quan hệ đó càng có sự chung thủy, hiệp một, trọn vẹn bấy nhiêu.
Loài người được Chúa tạo dựng không phải để sống đơn chiếc, lẽ loi, cô độc, tách biệt với nhau, nhưng để có quan hệ. Quan hệ với ĐCT và quan hệ với nhau. Như Ba Ngôi ĐCT đã có quan hệ với nhau từ đời đời cho đến đời đời.
Giáo điều về Ba Ngôi ĐCT là một giáo điều vô cùng phức tạp, khó hiểu. Nhưng ý nghĩa và áp dụng của giáo điều này rất rõ ràng trong sự thông công, trong quan hệ giữa người và người, giữa tín đồ trong HT. ĐCT tạo con người theo hình Ngài, tức để con người sống với quan hệ, sống trong quan hệ.
Đây chính là lý do KT dùng hình ảnh của đầu và thân để nói về HT và các tín đồ là chi thể của thân. Chúng ta cần nhau, chúng ta cần Đấng Christ. Người tin Chúa không thể nói chỉ tôi với Chúa. Nói như vậy là phủ nhận lời Chúa phán khi Ba Ngôi ĐCT tạo dựng loài người ở một mình không tốt. Là phủ nhận ý nghĩa và giá trị của quan hệ giữa Ba Ngôi ĐCT, giữa ĐCCha, ĐCJC và ĐTL.
Trong các tôn giáo khác, hoặc đơn thần hoặc đa thần. Tôi không biết có một tôn giáo đa thần nào mà các thần có quan hệ gần gũi, mật thiết, huống chi đến hiệp một cách trọn vẹn. Còn đơn thần thì có nghĩa gì cho quan hệ? Có nghĩa là trước khi thần đó sáng tạo thiên sứ, sáng tạo các loài sinh động vật, sáng tạo con người thì thần đó không có quan hệ với ai khác ngoài chính mình. Có nghĩa là quan hệ chỉ bắt đầu có sau khi con người được sáng tạo. Vậy quan hệ đến sau sự tạo dựng, quan hệ là hàng thứ phụ, quan hệ chỉ là một sản phẩm thứ phụ.
Nhưng Ba Ngôi ĐCT có nghĩa là quan hệ đã hiện hữu từ đời đời, trước khi mọi vật, mọi loài, gồm cả loài người được sáng tạo. Có nghĩa là ĐCT là một cộng đồng, nếu tôi có thể dùng chữ này để nói về Ba Thân Vị khác nhau nhưng là tuyệt đối là một trong quan hệ, hoàn toàn không có sự bất đồng, không có sự tranh cải, không có sự ganh tị, hờn giận, không có sự so sánh trong việc làm. Hiểu rõ điều này thì khi đọc lời cầu nguyện của ĐCJC cho các môn đồ chúng ta mới hiểu lý do Chúa cầu nguyện: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn hiệp nhất.
Trong tất cả mọi điều ĐCT tạo dựng, KT cho biết Chúa đều thấy là tốt lành (STK1:10, 12, 18, 21, 25). Đến nỗi sau đó KT viết ĐCT thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành (1:31): Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Tuy nhiên chỉ có một điều ĐCT không thấy là tốt lành. STK 2:18 GHV ĐCT phán rằng: Con người ở một mình không tốt! Ta sẽ dựng nên cho người một kẻ giúp đỡ thích hợp. (STK 2:18) Ở một mình không tốt, có nghĩa là cần có quan hệ; nếu không có quan hệ là không tốt, là còn thiếu sót, chưa toàn thiện, là chưa giống như hình ĐCT, không phải chỉ Ta số ít, nhưng Chúng ta, Ba Ngôi số nhiều.
Vì loài người được chúng ta, ba ngôi ĐCT tạo dựng nên cần phải có quan hệ. Quan hệ không phải là một điều thứ phụ, có cũng được, không có cũng không sau nhưng vô cùng cần thiết cho đời sống con người. Loài người phải có quan hệ, nếu không là không tốt! Nên khi A-đam chưa có E-va thì Chúa bảo đó là điều không tốt.
Ở một mình không tốt, có nghĩa là sự cô độc là điều không tốt; vì con người không có quan hệ thì không phản ánh được chúng ta, ba Ngôi hiệp một. Tác giả John Milton nhận xét về điều này như sau: Loneliness is the first thing which God's eye named, not good – Cô đơn là điều đầu tiên mắt Chúa nhìn thấy và Ngài gọi là không tốt.
Dù là người tin Chúa, chúng ta phải thú nhận rằng chúng ta đổi xử với người chung quanh theo những tiêu chuẩn, điều kiện của đời này: sắc đẹp, thông minh, tài của, chức phận. Thường người ta trọng giàu, khinh nghèo; trọng người chức phận, khinh người bần cùng; trọng người xinh đẹp, thông minh, xem thường người xấu xí, thất học. Dù là người tin Chúa, chúng ta không nhìn anh chị em trong Chúa là những người đã được ĐCT sáng tạo theo hình Ngài, những người có cùng một giá trị, cùng một vinh quang phản ánh từ nơi Chúa, có cùng một đức tin, một TL, một sự cứu rỗi từ ĐCJC.
Lời Chúa cáo trách, buộc tội chúng ta: 1 Thưa anh chị em, đã là tín đồ của Chúa Cứu Thế Giê-su vinh quang, Chúa chúng ta, anh chị em đừng thiên vị ai cả. 2Nếu có người đeo nhẫn vàng, ăn mặc sang trọng vào hội đường của anh chị em, lại có người nghèo khổ, ăn mặc rách rưới cũng vào. 3Anh chị em nhìn người ăn mặc sang trọng và nói: “Mời ông ngồi đây là chỗ tử tế,” nhưng lại bảo người nghèo khổ: “Anh hãy đứng đó hoặc ngồi dưới bệ chân tôi!” 4Thế có phải anh chị em kỳ thị lẫn nhau và lấy ác ý mà xét người không? 5Thưa anh chị em thân yêu của tôi, xin nghe đây: Không phải Đức Chúa Trời đã chọn người nghèo trong thế gian để làm cho họ giàu có trong đức tin và kế thừa Vương Quốc mà Ngài đã hứa cho những ai yêu kính Ngài sao? 6Nhưng anh chị em lại làm nhục người nghèo! Không phải kẻ giàu đã áp bức anh chị em và đưa anh chị em ra tòa sao? 7Không phải họ đã phạm thượng đến danh cao quý mà anh chị em được mang sao? 8Nếu thật anh chị em làm trọn luật của Vua như đã chép trong Kinh Thánh: “Hãy yêu thương người lân cận như chính mình,” thì anh chị em làm điều tốt. 9Nhưng nếu thiên vị người ta là anh chị em phạm tội và bị Kinh Luật lên án như một người phạm pháp (Gia-cơ 2:1-9 – BHĐ)
Tôi nhớ nhiều năm trước đây tôi và Lan đi mua xe minivan. Chúng ta ăn mặt rất tầm thường. Đến một dealer một người saleman nhìn chúng tôi rồi nói với các bạn ông: Hai vợ chồng này không có mua xe đâu! KT nhắc nhở chúng ta: Hãy giữ mãi tình thương huynh đệ. 2Đừng quên tiếp đãi khách lạ, nhờ đó có người đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết. 3Hãy nhớ những người bị tù như chính mình cũng ở trong vòng lao tù với họ; hãy nhớ những người bị bạc đãi như chính thân mình cũng bị bạc đãi. (Hê-bơ-rơ 13:1-3)
Không chỉ qua hành động, cách cư xử, thái độ nhưng lời KT còn dạy rõ về lời nói: Chúng ta dùng lưỡi để chúc tụng Chúa, Cha chúng ta, và cũng dùng nó để nguyền rủa loài người, là loài được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời. 10Từ một miệng mà ra cả sự chúc tụng lẫn nguyền rủa sao? Thưa anh chị em của tôi, đừng như vậy. (Gia-cơ 3:9-10 – BHĐ)
Qv có hiểu tại sao ĐCJC lại dạy trong bài giảng trên núi về tội nặng của thái độ, lời nói, hành động xem thường, khinh dễ người anh chị em mình hay không? Các con nghe lời dạy cho người xưa rằng: ‘Chớ giết người. Ai giết người sẽ bị trừng phạt.’ 22Nhưng Ta bảo các con: ‘Ai giận anh em mình, người ấy đáng bị trừng phạt. Ai mắng anh em mình là ngu xuẩn, người ấy đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là điên khùng người ấy đáng bị ném vào lửa hỏa ngục.’ (Ma-thi-ơ 5:21-22 – BHĐ) Tại sao? Bởi vì tất cả đều được sáng tạo theo hình ĐCT. Khi mắng nhiếc, làm nhục, mạ lỵ người anh chị em chúng ta, chúng ta vi phạm người được sáng tạo theo hình ĐCT, chúng ta chà đạp, hủy phá hình ĐCT trong người anh chị em mình.
Vậy khi chúng ta tiếp xúc với bất cứ một người nào, dù là mục sư hay người không tin Chúa, dù là người xinh đẹp hay tật nguyền, dù là người ăn xin hay cho chúng ta vay mượn, dù là người đồng ý hay bất đồng ý kiến, chúng ta phải có thái độ tôn trọng, tử tế, phải nói lời nhã nhặn, nhân hậu, đừng mắng nhiếc, miệt thị, khinh dễ, xem thường. Tại sao? Bởi vì tất cả đều được ĐCT sáng tạo theo hình Ngài.
Đầu tiên về sự tự nhận thức về chính bản thân, sự tự trọng. Rồi đến cách cư xử với người chung quanh chúng ta. Áp dụng thứ ba là về nhân quyền. Chúng ta hỏi: nhân quyền con người, các quyền công dân (civil rights) từ đâu mà đến? Bất kỳ giống người nào, màu da gì, bất kỳ tầng lớp nào trong xã hội, một số nhân quyền không thể bị chà đạp, dày xéo, phủ nhận. Như quyền tự do, quyền mưu cầu sự sống, quyền bình đẳng. Những ý thức này từ đâu đến? Có người cho rằng từ triết lý Tây Phương hay Đông Phương. Có phải từ văn hóa Hy Lạp hay Trung Hoa? Ngay cả triết gia lừng lẫy của Hy Lạp là Aristotle cũng cho rằng có những giống người không đủ khả năng để có thể bình đẳng với người Hy Lạp. Thậm chí ông cho rằng một số dân sinh ra chỉ để làm nô lệ. Ngay hôm nay tại một số quốc gia Hồi Giáo, phụ nữ chỉ bằng 1/2 người nam. Vậy chúng ta hỏi: tư tưởng về nhân quyền đến từ đâu? Câu trả lời là từ lời dạy trong KT về sự sáng tạo theo hình ĐCT.
Ta sẽ đòi lại sinh mạng con người từ tay đồng loại nó, tức là từ tay anh em nó. 6 Kẻ nào làm đổ máu người, sẽ bị người khác làm đổ máu lại; Vì Đức Chúa Trời tạo nên loài người theo hình ảnh của Ngài. (STK 9:5-6) Tại sao ĐCT đòi lại sinh mạng con người từ tay đồng loại? Có phải vì luật pháp con người? Không nhưng bởi vì ĐCT tạo nên loài người theo hình ảnh của Ngài. Đây là lý do mỗi người, mọi người đều có nhân quyền.
Một quyển sách của giáo sư Richard Wills có tựa là Martin Luther King and the Image of God (Martin Luther King và Hình của ĐCT) ấn hành bởi nhà xuất bản trường đại học Oxford. Giáo sư Wills lý luận rằng nền tảng của phong trành tranh đấu đòi hỏi quyền bình đẳng công dân cho người da đen của Martin Luther King là niềm tin vào lời KT dạy về sự sáng tạo con người theo hình ĐCT.
Thử suy nghĩ với tôi về một xã hội không tin vào hình ĐCT. Chúng ta hỏi nền tảng cho nhân quyền, cho quyền công dân đến từ đâu? Một giải pháp, trả lời là từ khả năng, năng lực con người. Đây là lý luận của Peter Singer, một giáo sư triết học và luân lý (ethics) rất nổi tiếng của trường đại học Princeton. Ông lý luận rằng giá trị và nhân quyền con người tùy thuộc vào khả năng hay năng lực. Vì vậy ông kết luận việc phá thai là đúng bởi vì bào thai trong bụng mẹ hoàn toàn không có khả năng hay năng lực để làm bất cứ điều gì cả. Một người chỉ đáng được bảo vệ, đáng có quyền công dân khi họ có khả năng lý luận, có khả năng chọn lựa, quyết định đúng sai, có thể dự phần vào cộng đồng loài người, có thể đóng góp vào phúc lợi xã hội.
Mới nghe qua, lý luận này có vẻ hợp lý nhưng nghĩ lại nó có nhiều vấn đề. Nếu một bào thai trong bụng mẹ không có khả năng hay năng lực, thì một em bé mới chào đời cũng không có khả năng để làm bất cứ điều gì ngoại trừ khóc và đòi bú sữa. Còn một người già yếu, như người dì của tôi, bại liệt, hôn mê nằm trên giường bệnh trong suốt gần 2 năm dài có khả năng gì? Nếu xã hội có thể lấy đi mạng sống em bé còn trong lòng mẹ, thì có lý do gì xã hội, chính quyền không thể lấy đi mạng sống của một người hoàn toàn bại liệt, hôn mê như dì tôi? Lý do gì chồng, con dì lại chăm sóc cho vợ, mẹ trong suốt thời gian bà hoàn toàn mất hết mọi khả năng? Tình yêu thương và niềm tin rằng dù không có khả năng, dì tôi vẫn có quyền để sống, vẫn có quyền để yêu thương và được yêu thương bởi vì cũng như tôi, như mọi người dì được ĐCT sáng tạo theo hình ảnh Ngài. Đó là lý do duy nhất đủ để đảm bảo quyền sống của một người.
Nếu chúng ta trở lại thế kỷ 1 của hội thánh đầu tiên, chúng ta sẽ thấy hội thánh và tín đồ sống trong một xã hội, chế thể của đế quốc La-mã đặt nền tảng nhân quyền trên khả năng như một số triết gia, chính trị gia hôm nay đề nghị. Nạn nô lệ tràn lan: người nghèo đói phải bán mình để làm nô lệ. Nạn phá thai tràn đầy: phụ nữ bán thân kiếm sống, khi mang thai phải phá vì không nuôi nổi. Nạn giết trẻ em, nhất là các em bé gái tràn đầy. Những người già yếu, bệnh tật, nghèo đói bị bỏ rơi chỉ chờ chết. Tất cả những điều này đều hợp pháp theo luật của đế quốc La-mã.
Hội thánh Chúa, tín đồ Cơ Đốc tin rằng mọi người đều được sáng tạo theo hình ĐCT, đều có một giá trị tự tại, đều phản ánh vinh quang của ĐCT. Vì vậy tín đồ chống đối việc phá thai. Họ lượm các em bé gái bỏ rơi ngoài đường đem về nuôi; hội thánh chăm sóc những người góa bụa, nghèo đói, tật bệnh.
Hội thánh không chỉ chống đối việc phá thai, nhưng Hội thánh còn ủng hộ, nâng đở, quí trọng phụ nữ, trẻ em mồ côi, đàn bà góa bụa, người nghèo khổ. Hội thánh mở rộng cửa cho mọi giống người dù là Giu-đa hay Hy Lạp, dù là da trắng hay da đen, dù là nam hay nữ, dù nô lệ hay tự do. Vì mọi người mang hình của ĐCT.
Rất đông phụ nữ, nô lệ gia nhập hội thánh vì lần đầu tiên trong đời được nghe, biết, hiểu rằng dù là phụ nữ, hay nô lệ thì họ vẫn đã được sáng tạo theo hình ĐCT, có một giá trị nội tại mà không ai có thể cướp lấy đi. Khi họ đứng dưới chân thập giá đất bằng phẳng cho mọi người, dù là cho người uy quyền, giàu có hay người thấp hèn, nghèo khó.
Khi chúng ta tin vào mọi người mang hình ĐCT, vòng tròn của sự bảo tồn sự sống, nhân phẩm, nhân quyền được nới rộng. Nhưng khi chúng ta phủ nhận lời dạy này, khi xã hội đánh giá con người theo khả năng, vòng tròn đó hẹp lại và chỉ có một số người có nhân quyền. Đây là lý do niềm tin vào sự sáng tạo của con người theo hình ĐCT vô cùng quan trọng, ý nghĩa, liên quan đến sự sống và sự chết, đến nhân phẩm và nhân quyền con người.
Tôi muốn cùng qv và suy gẫm về chính lời dạy của ĐCJC: “Khi Con Người ngự đến trong vinh quang mình cùng với tất cả các thiên sứ, Ngài sẽ ngồi trên ngai vinh quang. 32Muôn dân sẽ tụ họp trước mặt Ngài; và Ngài sẽ chia họ ra như người chăn chia chiên và dê ra: 33để chiên bên phải, và dê bên trái. 34Lúc ấy, Vua sẽ phán với những người ở bên phải rằng: ‘Hỡi những người được Cha Ta ban phước, hãy đến thừa hưởng vương quốc thiên đàng đã chuẩn bị sẵn cho các con từ khi tạo dựng trời đất. 35Vì Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho Ta uống; Ta là khách lạ, các con tiếp rước Ta; 36Ta trần truồng, các con mặc cho Ta; Ta ốm đau, các con chăm sóc Ta; Ta bị tù, các con thăm viếng Ta.’ 37Lúc ấy, những người công chính thưa với Ngài: ‘Lạy Chúa, có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, hoặc khát mà cho uống đâu? 38Có khi nào chúng con thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà mặc cho Ngài đâu? 39Hay có khi nào chúng con thấy Chúa ốm đau hoặc bị tù mà thăm viếng Ngài đâu?’ 40Vua sẽ trả lời rằng: ‘Thật, Ta bảo các con, khi các con làm điều ấy cho một người thấp kém nhất trong những anh em nầy của Ta, tức là đã làm cho Ta.’ (Ma-thi-ơ 25:31-40)
Ta đói – người nghèo khổ; Ta là khách lạ (người kiều dân, ngoại quốc) – cô độc, cô đơn; Ta trần truồng – người bị áp bức hay nghèo khổ; Ta ốm đau – người bệnh hoạn; Ta bị tù – người mắc tội. Đây là danh sách của những người chúng ta đều muốn xa lánh! Nhưng họ là Ta, Vua, Con Người, ĐCT. Đến ngày phán xét cuối cùng, tôi chắc rằng sẽ có rất nhiều ngạc nhiên. Một bồ kiến thức KT không cứu được chúng ta!
Tôi chân thành kêu gọi hội thánh Chúa tại đây áp dụng niềm tin này: Mọi người đối xử với nhau với sự quí trọng, với lời nói tử tế, nhân hậu, chân thật, đừng có lời khinh khi, mắng nhiếc, rủa sả, làm nhục, mạ lỵ người anh chị em chúng ta như lời dạy trong Gia-cơ 3:9. Hội thánh chúng ta chống đối việc phá thai dù luật pháp của tiểu bang cho phép. Tuy nhiên chúng ta vẫn đối xử tử tế với những phụ nữ phá thai bởi vì chính những người này cũng mang hình ĐCT trong họ. Dù hội thánh tin vào lời dạy KT không đồng ý với những người đồng tín, những người chuyển giới tính, nhưng cửa hội thánh vẫn luôn mở rộng, và tín hữu hội thánh mở rộng vòng tay để chào đón những anh chị em đó, vì chính những người này cũng đã được sáng tạo theo hình ĐCT như tất cả chúng ta đây.
Ý NGHĨA CỦA SỰ SÁNG TẠO THEO HÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI
26Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.” 27Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ. 28Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi loài bò sát trên mặt đất.” (STK 1:26-28)
Khi một em bé mới sinh ra, người chung quanh nhìn em và trầm trồ: cháu giống mẹ về gương mặt, giống cha về con mắt… Những nhận xét này cũng chỉ là tạm thời và cũng không hoàn toàn chính xác. Tại sao? Bởi vì một gương mặt, một cặp mắt chỉ phản ánh một phần nhỏ của người cha, người mẹ. Hơn thế nữa theo thời gian cháu bé thay đổi. Tôi dùng ví dụ này để nói lên giới hạn của mọi so sánh, mô tả con người giống theo hình ĐCT thật có nghĩa gì. Bởi vì ĐCT là Đấng vô lượng, vô biên, toàn hảo, toàn tri, toàn năng nhưng con người là loài thọ tạo, nhỏ nhoi, giới hạn trong hiểu biết, và đặc biệt sau khi phạm tội con người
Một vài quan điểm không đúng: Theo hình ĐCT không có nghĩa là giống như ĐCT về hình thể hay hoàn toàn mang thần tính như đạo Ma-môn dạy. Bởi vì KT dạy rõ rằng ĐCT là thần linh: Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý. (Giăng 4:24 – BHĐ). Những hình ảnh như cánh tay ĐCT, dưới cánh ĐCT chỉ là thể nhân cách hóa để giúp người đọc có thể liên hệ đến ĐCT qua những từ liệu, cách diễn tả quen thuộc.
Hai từ nói lên ý nghĩa của sự sáng tạo theo hình ĐCT: biểu tượng và phản ánh/chiếu. Con người chỉ là biểu tượng của ĐCT như một bức tượng hay một tấm tranh là biểu tượng của một người. Tranh hay tượng chỉ có thể nói lên phần ngoại hình của một người trong một thời điểm nhưng không thể nào cho biết được nội tâm hay con người thật khi giao tiếp với người chung quanh thế nào. Từ phản ánh giúp nên lên phần nào bên trong của một người. Một ánh mắt, một nụ cười, vị trí và cung cách của cánh tay, bờ vai phản ánh được phần nào tâm trạng bên trong lòng của một người qua tấm hình.
Hình ảnh là biểu tượng. Nhưng tấm gương, tấm kiến phản chiếu.
ĐCT nói, Ta tạo dựng loài người để là biểu tượng và để phản ánh vinh hiển, phản ánh tình yêu thương, lòng nhân từ, phẩm tính. Con người như một tấm gương có khả năng phản chiếu hình ĐCT, phản chiếu vinh hiển, phẩm tính ĐCT. Và nếu con người phản chiếu hình ĐCT một cách trung thực, họ sẽ trở nên một nguồn phước hạnh cho thế gian, sẽ giúp cho đời sống tốt đẹp hơn.
Thứ nhất, bởi vì chúng ta được sáng tạo theo hình ĐCT nên như 3 ngôi ĐCT con người có quan hệ. Con người không thể sống không cô độc, đơn chiếc, lẽ loi, nhưng cần có quan hệ. Mỗi người chúng ta đều là tổng thể của những quan hệ trong đời sống. Nói như vậy không có nghĩa là hoàn toàn giống nhau, nhưng như tấm gương, chúng ta phản ánh, phản chiếu một vẻ, một nét, một tính hạnh nào đó từ người chúng ta kính trọng, muốn bắt chước, học làm theo. [Thói quen cặp sách như người giáo sư Nhật dạy toán của tôi]
Khi 1 người còn trẻ độ 25-30, họ nghĩ: tôi sẽ không như cha mẹ tôi, tôi sẽ là tôi, sẽ hoàn toàn khác với cha mẹ tôi. Nhưng như thành ngữ HK: trái táo không rớt xa khỏi cây. Dù muốn hay không, ít hay nhiều, các anh em chị vẫn phản ánh một phần tính tình, phong cách, lời nói của cha mẹ là người các anh chị em chung sống với mỗi ngày. Đây là một thực tế.
Nếu trẻ em sống với những lời chỉ trích, chúng sẽ học cách lên án. Nếu trẻ em sống với sự thù địch, chúng học cách chiến đấu. Nếu trẻ em sống với sự chế giễu, chúng sẽ học cách nhút nhát. Nếu trẻ em sống với sự xấu hổ, chúng học cách cảm thấy tội lỗi. Nếu trẻ em sống với sự khuyến khích, chúng sẽ học được sự tự tin. Nếu trẻ em sống với sự khoan dung, chúng học cách kiên nhẫn. Nếu trẻ em sống với lời khen ngợi, chúng sẽ học cách đánh giá cao. Nếu trẻ em sống với sự chấp nhận, chúng sẽ học cách yêu thương. Nếu trẻ em sống với sự chấp thuận, chúng sẽ học cách thích chính mình. Nếu trẻ em sống với sự trung thực, chúng sẽ học được sự trung thực. Nếu trẻ em sống với an ninh, Họ học cách có niềm tin vào bản thân và người khác. Nếu trẻ em sống với sự thân thiện, chúng sẽ học được thế giới là một nơi tốt đẹp để sống.
Đến khi 45, 55, 65 chúng ta bắt đầu nhận biết thật chúng ta phản ánh rất nhiều từ cha mẹ, gia đình, và những người chúng ta chọn để có quan hệ. Tôi và qv là sản phẩm của quan hệ. Bởi vì chúng ta được sáng tạo theo hình ĐCT. Đây là lý do hội thánh ĐCT luôn cần có sự nhóm lại, thông công, không phải qua mạng tuyến nhưng mặt tận mặt.
Thứ hai, ý nghĩa của theo hình ĐCT có nghĩa là tất cả mọi người đều cần có một đời sống tâm linh, và tâm linh chúng ta sẽ phản ánh ĐCT. Gương kiến không tự nó có thể tạo nên ánh sáng, nhưng chỉ có thể phản chiếu ánh sáng. Vậy con người, vì được sáng tạo theo hình ĐCT, luôn luôn cần có một sự vật ngoại thể (bên ngoài chúng ta) để đem lại ánh sáng, vinh hiển, đem lại giá trị.
Từ vinh hiển trong KT có nghĩa là sức nặng, quan trọng. Khi nói ĐCT vinh hiển có nghĩa rằng ĐCT là Đấng quan trọng hơn tất cả. Loài người được sáng tạo theo hình ĐCT để phản chiếu vinh hiển ĐCT. Nhưng nếu không là vinh hiển ĐCT, thì con người cũng sẽ chọn cho mình một điều gì khác để phản chiếu vinh hiển, để chứng minh giá trị, như sắc đẹp, tài giỏi, tiền của, địa vị…
Tôi nghe nhiều người nói: tôi không care ai nghĩ gì về tôi; tôi biết giá trị tôi là đủ rồi. Có thật vậy không? Có tấm gương nào tự nó phát ra ánh sáng? Cũng vậy mọi người, mỗi người đều cần một nguồn sáng từ nơi nào đó để phản chiếu, để giúp họ biết họ có giá trị, họ quan trong. Không ai có thể thật sự nói tôi hoàn toàn không màng đến lời nói, đánh giá, nhận xét, phê bình của người chung quanh mình.
Và nếu tâm linh chúng ta như một tấm gương không phản chiếu vinh hiển ĐCT, chúng ta sẽ mượn một nguồn sáng nào khác để phản chiếu, để xác định giá trị, quan trọng, tự trọng, tự tin cho chính mình. Có người tìm giá trị, quan trọng qua công việc, có người qua tiếng khen, con số clicks, likes trên mạng xã hội… Tại sao? Bởi vì như tấm gương, chúng ta đều sẽ phản chiếu.
TỘI LỖI PHÁ HỦY HÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG CON NGƯỜI
Tội lỗi hoàn toàn phá hủy hình ĐCT trong con người. Phả hủy cách nào? Biến đổi bản chất con người. Tội lỗi không phải như những vết bùn dính trên quần áo có thể phủi ra, giặt ra nhưng là một loại thuốc nhuộm vĩnh viễn, dù có giặt bao nhiêu lần vẫn giữ màu sắc.
Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23)
Tôi chắc tất cả qv đây cũng như tôi đều nhìn chính mình trên gương kiến sáng nay trước khi đến nhà thờ. Xem gương khi đánh răng, rửa mặt, chải tóc, mặc quần áo hay trang điểm. Gương phản ánh trung thực bề ngoài của chúng ta. Ngày xưa trước khi gương được sáng chế thì con người dùng mặt nước yên lặng để xem phản ánh của chính mình. Khi mặt nước yên lặng thì sự phản ánh phần nào trung thực. Nhưng khi có gió thổi làm gợn sống mặt ao hồ thì hình dọi cũng bị lệch lạc đi.
Mức độ chính xác của hình trong gương cũng tùy thuộc vào loại gương. Dùng một tấm gương không chỉnh sẽ làm lệch lạc, cong quẹo hình ảnh chính mình. Có những loại gương phóng đại khi xem thấy rõ mọi chi tiết mình muốn dấu đi. Cũng có loại gương làm người mập nhìn ốm lại, người ốm lại mập phì ra.
Nhưng không phải chỉ về hình dáng bề ngoài nhưng quan trọng hơn là nhiều tấm gương, tiêu chuẩn chúng ta dùng để đánh giá chính mình cũng ảnh hưởng đến cả nhận xét về mình từ trong ra ngoài. Mèo có thể tự nghĩ rằng mình là cọp. Một thiếu nữ ốm nghĩ mình lúc nào cũng béo phì. Một người lớn tuổi nghĩ mình còn trẻ lắm!
Tội lỗi hoàn toàn phá hủy hình của ĐCT trong con người. Khi ĐCT tạo nên A-đam & E-va và kết hợp trong hôn nhân, cả hai hoàn toàn vô tội, không hề có ý thức về quyền lực áp chế trên nhau. Nhưng sau khi phạm tội: Thuận phục lẫn nhau trở nên cai trị lẫn nhau; Yêu thương, hy sinh trở nên dục vọng, thắng thua; Đầu & thân lẽ ra là một thể trở nên người trên - kẻ dưới, có quyền - dưới quyền, ra lệnh – thi hành, thắng - thua
Beatrice Webb là một trong những người sáng lập ra hệ thống an ninh xã hội Anh Quốc hiện đại… Bà cùng chồng và một số người trí thức khác đã thành lập London School of Economics, 1 trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất thế giới về kinh tế, chính trị và ngoại giao. Bà là một người tin vào chủ nghĩa xã hội, một người cải cách xã hội, một lãnh đạo Anh Quốc.
Bà viết và giữ nhật ký. Năm 1925 khi đọc lại những đoạn nhật ký trước đó, bà viết, “Trong nhật ký, tôi đã viết năm 1890, ‘Tôi đặt trọn niềm tin vào bản chất thiện mỹ của con người’ Giờ đây, 35 năm sau, tôi ý thức rằng thường trú trong con người chúng ta (phần không thể tách rời) là những thúc dục và bản năng độc ác. Những điều này không thay đổi bao nhiêu, như lòng tham lam về tài của và quyền thế, và không bao giờ có thể thay đổi bằng nguồn máy xã hội. Chúng ta cần phải đòi hỏi bản tính tốt đẹp hơn từ con người, nhưng làm sao có thể được điều này? Không khoa học hay kiến thức nào đủ để giúp (thay đổi bản tính độc ác) và ngoại trừ khi chúng ta có thể kềm chế được những thúc dục xấu xa, làm sao chúng ta có thể đạt được một xã hội tốt hơn?
Tất cả mọi người đều ao ước có tình yêu thương và sự hiệp một. Một cụm từ vô cùng trong KTTU là lẫn nhau, cho nhau, cùng nhau, vì nhau, với nhau. ĐCT tạo dựng con người theo hình Ngài để con người sống với quan hệ, trong quan hệ, để sống với nhau, cùng nhau, cho nhau, vì nhau. Vì thời gian tôi chỉ xin chiếu lên đây 31 câu KT gồm các cụm từ này. Tuy nhiên vì tội lỗi nên thay vì sống lẫn nhau, cho nhau, cùng nhau, vì nhau, với nhau, mỗi người chỉ sống cho chính mình.
Đọc lời cầu nguyện của ĐCJC trong đêm cuối đời trong Giăng 17: Chúa cầu nguyện cho các môn đồ và những người sẽ tin Ngài qua họ sẽ có tình yêu thương và sự hiệp một. Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy. (Giăng 17:11)
Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, 21 để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. (17:20-21)
Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: 23 Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con (22-23)
Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. 35 Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta. (Giăng 13:35)
Tình yêu thương, sự đoàn kết, hiệp một hoàn toàn bị phá hủy bởi tội lỗi. Ca-in giết em mình là A-bên do lòng ghen tức, đố kỵ vì ĐCT nhậm của lễ dâng của em mình mà không nhận của lễ dâng của mình. Sau đó Lê-méc giết một thanh niên và làm một bài hát để khoe với 2 người vợ của ông khi người thanh niên đó chỉ gây thương tích. Lần đầu tiên STK viết về các vua là khi họ ra trận, đánh nhau, giết nhau vì lãnh thổ, đất đai.
SỰ HỒI PHỤC, TÁI TẠO HÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG CHÚNG TA
Một lá thư nổi tiếng của Quận Chúa của Buckingham (Duchess of Buckingham) gởi cho Bà Bá Tước của Hungtingdon vào thế kỷ 19. Sau khi nghe một mục sư truyền giáo tên George Whitefield, bà Bá Tước của Hungtingdon tin Chúa và tìm nhiều cách để nói về sự cứu rỗi của ĐCJC cho những người bạn trong giòng quí tộc. Bà gởi các bài giảng của MS Whitefield cho nhừng người bạn thuộc giòng quí tộc, gồm có Quận Chúa của Buckingham. Khi đọc qua bài giảng về tội con người, Quận Chúa viết một lá thư có lời như sau: Tôi cám ơn Bá Tước [đã gởi bài giảng cho tôi.] Nhưng những giáo điều này là những lời dạy đáng ghê tởm, và vô nghĩa. Nó bày tỏ sự vô lễ, thiếu tôn trọng với những người bề trên, loại bỏ đi mọi giai cấp, và khác biệt. Thật kinh khiếp khi bị bảo rằng tâm hồn, con tim tôi cũng tội lỗi như bọn thường dân khốn khổ bò trên mặt đất. Đây là điều xúc phạm, mạ lỵ, nên tôi không thể không tự hỏi lý do gì Bá Tước lại vui lòng nhận những ý nghĩ này, hoàn toàn khác biệt với nhừng người có cấp bậc cao trọng và danh giá như vậy.
Quận chúa của Buckingham tin chắc rằng bà không phải là người tội lỗi như bọn thường dân khốn khổ bò trên mặt đất. Bà quên rằng chính lòng kiêu hảnh về đạo đức này là một tội lớn dưới mắt ĐCT. Nhưng một điều quận chúa của Buckingham nhận xét đúng: nếu tin lời KT dạy mọi người đều có tội, thì mọi người đều như nhau! Không ai có thể nói với người khác đúng là hạng người tội lỗi. Hay nhóm này với nhóm khác đúng là giai cấp tội lỗi. Dưới chân thập giá, đất bằng phẳng, không phân biệt địa vị, học thức, giai cấp, chủng tộc, màu da, nhưng cả tội lỗi: vì mọi người đều phạm tội.
Vậy nếu qv tin lời dạy KT về tội lỗi, từ A-đam & E-va lan đến mọi người từ xưa mãi đến nay và còn đến khi loài người còn hiện diện trên quả đất này, thì không ai hơn ai về tội cả. Qv không thể hỉnh mũi mà nhìn người này, người nọ mà tự hào Họ tội, tôi không; họ xấu, tôi tốt. Lời dạy về tội tổ tông (original sin) lấy đi sự kiêu hảnh, tự phụ về sự công chính trong lòng một người. Nếu họ thật sự hiểu rõ lời dạy này! Và vì tôi có tội như mọi người nên như mọi người tôi cần sự cứu rỗi, tha thứ, cần ân điển.
Thường thì với tội mình chúng ta van xin được ĐCT ban cho ân điển, được tha thứ, xóa bỏ, quên đi. Với tội người chúng ta đòi hỏi công bình: đáng bị ĐCT trừng phạt! Tội tôi khác với tội người! Ma quỉ muốn qv nghĩ lầm lẫn như vậy.
Khi đọc trong 4 sách Phúc Âm, loại người ĐCJC lên án nặng nề nhất là ai? Có phải người thu thuế, những người mà thế gian gọi là phường đĩ điếm, hay người bắt quả tang phạm tội tà dâm? Đối với những người này, một khi họ đã ý thức tội, Chúa tha thứ, yêu thương dạy bảo đừng phạm tội nữa. Nhóm người Chúa lên án nặng nề nhất là những người Pha-ri-si (đọc Ma-thi-ơ 23). Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ. 26 Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ. 27 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. 28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi. (Ma-thi-ơ 23:25-28)
KT là tấm gương giúp chúng ta biết rõ tội mình: Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong ḷng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại. (Hê-bơ-rơ 4:12-13)
ĐTL dùng lời Chúa trong KT để cho chúng ta thấy rõ những động cơ sai lầm, những kiêu ngạo mặc áo khiêm nhường, những đen tối trong ý nghĩ, trong sự đánh giá, lên án người khác. ĐTL dùng lời Chúa trong KT để cáo trách, sửa dạy. Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào. Nhưng kẻ nào xét kỹ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời. (Gia-cơ 1:22-25)
Thay vì đổ thừa hay so sánh tội, KT dạy chúng ta phải nhận thú tội của chính mình để được tha thứ. Qv nhớ câu chuyện ngụ ngôn Chúa kể về người thu thuế tội lỗi và người Pha-ri-si cầu nguyện tại đền thờ. Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. 11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. 12 Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! 14 Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. (Lu-ca 18:10-14)
Người Pha-ri-si tự hào về sự công chính, giữ trọn mọi luật lệ: không tham lam, bất nghĩa, gian dâm, kiêng ăn, dâng hiến 1/10. Hắn không hề ý thức rằng dù giữ bao nhiêu luật lệ thì vẫn phạm tội trong tâm hồn, tư tưởng, động cơ. KT xác nhận rõ rằng mọi việc công chính con người dưới mắt ĐCT cũng chỉ như một tấm dẽ nhơ nhớp. Tại sao? Bởi vì sự công chính, sự thánh khiết của ĐCT là tuyệt đối.
Vậy thay vì tự hào về sự công chính của mình, chúng ta phải biết nhận tội và ăn năn, xin Chúa tha thứ. Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu. (TT 51:1)
Nếu có một người xem là thánh khiết, trung trực, hết lòng với ĐCT, cuộc sống gương mẫu, người đó là sứ đồ Phao-lô. Vậy đó mà chính ông cũng đã viết: Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ. 15 Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. 16 Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời. (1 Ti-mô-thê 1:14-16)
PL ý thức một điều mới xem qua như nghịch lý, mâu thuẫn nhau: Hễ càng gần Chúa, ông càng ý thức rõ hơn về bản chất tội lôi, nhưng đời sống của ông ngày lại càng thánh khiết hơn. Và lý do, nguyên nhân của đời sống thánh khiết không phải vì sự tự chủ bản thân nhưng bởi quyền năng ĐTL, bởi ân điển Chúa. Chính vì hiểu được điều này nên không có gì để so sánh mình với người để lên mình kiêu ngạo.
ĐCT đã ban cho chúng ta một phương cách duy nhất để hồi phục, tái tạo hình ĐCT trong con người tội lỗi: ĐCJC. Đoạn KT chúng ta đã nghe đọc trong Cô-lô-se xác nhận một điều vô cùng quan trọng: chỉ có ĐCJC là hình ảnh chính xác nhất, trung thực nhất, toàn hảo nhất của ĐCT: Chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời vô hình, là Đấng sinh ra trước tất cả mọi loài thọ tạo. (Cô-lô-se 1:15).
Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài (Hê-bơ-rơ 1:3)
ĐCJC tự nhận ai thấy Ta thấy Cha. Phi-líp thưa rằng: “Thưa Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con thì đủ rồi.” 9Đức Chúa Jêsus đáp: “Phi-líp ơi, Ta đã ở với các con lâu rồi, mà các con chưa biết Ta! Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha. Tại sao con lại nói: ‘Xin chỉ Cha cho chúng con’? (Giăng 14:8-9)
5Thật vậy, cho đến ngày nay, mỗi khi nghe đọc sách Môi-se thì bức màn lại che phủ lòng họ. 16Nhưng khi một người trở lại với Chúa, thì màn ấy được cất đi. 17Chúa là Thánh Linh, nơi nào có Thánh Linh của Chúa, nơi đó có tự do. 18Tất cả chúng ta đều để mặt trần chiêm ngưỡng vinh quang Chúa, được biến đổi trở nên giống như hình ảnh Ngài, từ vinh quang đến vinh quang; vì điều nầy đến từ Chúa là Thánh Linh. (2 Cô-rinh-tô 3:15-18)
Như tôi đã giải thích vì được sáng tạo theo hình ĐCT, tất cả chúng ta như một tấm gương đều phản ánh. Hoặc phản ánh hình ĐCT, ánh sáng từ tình yêu thương, lẽ thật, ân điển, sự tha thứ từ ĐCT. Hoặc từ những điều khác như công việc, sắc đẹp, tài giỏi, thành công, chức vị. Tội lỗi khiến chúng ta thay vì phản ánh hình ĐCT lại phản ánh vinh quang, hòa nhoáng từ vật chất đời này. Tội lỗi khiến chúng ta phản ánh tối tăm của ma quỉ thay vì ánh sáng từ ĐCT.
Nhưng nếu chúng ta nhìn chăm vào ĐCJC, Đấng duy nhất là hình trung thực nhất, chính xác nhất, Đấng phản ánh mọi vinh hiển của ĐCT, không phải qua hào quang nhưng qua tình yêu thương, ân điển, sự tha tội, qua sự khiêm nhường, hy sinh của ĐCJC, chúng ta sẽ thay đổi ngày mỗi ngày, từ chút này sang chút khác.
Khi nhìn chăm vào ĐCJC, hình Ngài sẽ phản chiếu vào tâm linh chúng ta, thay đổi tâm linh, tính hạnh, lời nói, hành động. Chúng ta sẽ không còn chà đạp lên người chung quanh, vì ý thức rằng chính họ cũng được sáng tạo theo hình ĐCT.
Khi nhìn chăm ĐCJC chúng ta thấy gì? Quan trọng và giá trị về sắc đẹp, vật chất? Không. Chúng ta sẽ thấy một người rất tầm thường về diện mạo bên ngoài: Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ; khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được. 3 Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. (Ê-sai 53:2-3) Nhưng hoàn toàn tuyệt vời trong tình yêu thương, ân điển, sự tha thứ, qua sự hy sinh, chịu chết để cứu tội, qua phẩm tính trong sáng, thánh khiết, chân thật như một viên kim cương sáng chói, không tì vết.
Và khi chúng ta xoay tấm gương của tâm linh mình về Ngài và khỏi những điều khác, chúng ta sẽ dần thay đổi, ngày mỗi ngày, bước từng bước. Xin nghe tôi: tất cả qv và tôi được sáng tạo theo hình ĐCT. Tội lỗi đã phá hủy hình ĐCT trong chúng ta. Một cách duy nhất để hồi phục, tái tạo lại hình lệch lạc, cong quẹo là chăm nhìn ĐCJC, Hình trung thật nhất, chính xác của ĐCT trong vòng loài người tội lỗi.
