Đức Tin Trong Lửa – Tái Sanh Bởi Lời Hằng Sống
Chúng ta tiếp tục thư 1 P. chủ đề Đức Tin Trong Lửa. P. viết thư này cho các tín đồ bị tản lạc khắp các vùng khác nhau trong xứ Tiểu Á đang trải qua rất nhiều khó khăn, hoạn nạn, mất mát, thậm chí thảm cảnh vì đức tin trong ĐCJC. Trong thư, P. ví cảnh ngộ khó khăn tín đồ đang trải qua là lò lửa thử thách. Lò lửa có thể thiêu đốt nhưng cũng có thể tôi luyện, làm sạch. Vàng, bạc qua lửa mới có thể trở nên ròng. P. viết thư để động viên, khích lệ các tín đồ này rằng khi dù họ đang trong lò lửa thử thách, ĐCT sẽ gìn giữ để đức tin họ sẽ không bị thiêu hủy nhưng trái lại sẽ trở nên tinh sạch, quí báu hơn.
Vài tuần trước đây, tôi giảng về sự tái sanh trong hy vọng sống, theo 1P 1:3-5. Trong bài giảng đó, tôi giải thích thế nào là tái sanh. Một người tái sanh là người được ĐCT chọn lựa từ trước muôn đời để cứu. Tôi cũng giải thích 3 bằng chứng hay thước đo để chúng ta biết một người thật đã được tái sanh.
Bài giảng hôm nay về một khía cạnh khác, một câu hỏi khác về sự tái sanh. Câu hỏi đó là tái sanh xảy ra thế nào. 1P 1:10-12, 22-25 giải thích rằng sự tái sanh xảy ra khi một người nghe, nhận, hiểu, và tin lời Chúa, Kinh Thánh. Chúng ta sẽ tìm hiểu 3 điều rất cụ thể và thực tế: 1) Quyền năng của lời Chúa; 2) Câu chuyện trong KT; 3) Kỳ diệu của KT
QUYỀN NĂNG CỦA LỜI CHÚA
Sự tái sanh xảy ra thế nào? Theo lời dạy của P. sự cứu rỗi, tái sanh xảy ra khi một người nghe, nhận, hiểu, và tin lời Chúa, Kinh Thánh: chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời (1:23) Giống đây không phải là loại, nhưng là hạt giống như trong các bản dịch mới.
Sứ đồ Gia-cơ cũng dạy cùng một ý này Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên. (Gia-cơ 1:18). Cả hai sứ đồ đều xác nhận rằng KT chính là lời hằng sống, bền vững, lời chân thật đáng tin cậy của ĐCT. Khi nói KT là lời của ĐCT có nghĩa KT là khải thị trực tiếp của ĐCT cho loài người. Làm thế nào để biết về ĐCT? Qua KT. Làm thế nào để hiểu được sự cứu rổi? Qua KT. Chỉ qua lời Chúa trong KT chúng ta mới có thể nghe, biết về Tin Lành, về sự cứu rỗi trong ĐCJC. Nói cách khác để biết, hiểu về ĐCT chúng ta phải biết, hiểu KT. Chính vì lý do này mà người Cơ Đốc thường được gọi là dân của lời Chúa, people of the Book.
P. dùng hình ảnh hạt giống. Đây cũng chính là hình ảnh ĐCJC dùng trong chuyện ngụ ngôn 4 loại giống trong Ma-thi-ơ 1:1-23. Lời Chúa được ví như hột giống vì có quyền năng của sự sống: đem đến sự sống, thay đổi sự sống, tái tạo sự sống.
Số báo mùa đông 2020 của tờ Biblical Archaeology có một bài viết về một công trình nghiên cứu liên quan đến các hạt giống của cây vả (Judean Date Palm). Khi đào tìm các di tích cỗ trong KT tại 3 vùng Masada, Qmuran, and Wadi Makukh, các nhà khảo cỗ học tìm được 32 hột giống của cây vả đã có từ hơn 2000 năm. Sau đó, các nhà nghiên cứu chọn và gieo 6 hột trong số 32 hột giống để xem có thể thành cây. Đến năm 2005 hột trở nên cây cao khoảng 10 feet, bắt đầu trổ bông. Mùa thu 2019 cây kết quả.
Đây là quyền năng sự sống từ hình ảnh hạt giống. Một hạt chứa đựng trong nó mầm của sự sống dù đã cũ hơn 2000 năm. Trong 2000 năm dài, hột giống tưởng như đã chết. Nhưng khi được gieo vào đất tốt, được chăm sóc trong môi trường thích hợp, hột giống tái sanh, nẩy mầm rồi nên cây sinh trái. Cây cổ thụ redwood trong những khu rừng dọc bờ biển miền Bắc California là một loại cây cao lớn nhất thế giới. Cây có đường kính từ 8-20 ft và cao hơn 350ft. Nhưng cây bắt đầu từ một hột giống nhỏ bé.
Giả sử thay vì gieo hột giống, chúng ta lấy một hòn đá, một viên sỏi hay một hột ngọc trai, một viên kim cương tốn hàng chục ngàn đồng gieo vào nơi đất tốt nhất, màu mỡ nhất. Mỗi ngày chúng ta tưới nước, bón phân. Dù có chờ đến 10 năm hay 100, 1000 năm thì viên sỏi, hòn đá, hột ngọc trai hay viên kim cương đó sẽ không bao giờ có thể tái sanh, nẩy mầm, thành cây. Vì kim cương dù đắt giá, được quí chuộng đến mấy, nó hoàn toàn không có mầm của sự sống.
Khi lời Chúa được gieo vào lòng người, vào trí ức người, một mầu nhiệm sẽ xảy. Quyền năng của lời Chúa sẽ thay đổi suy nghĩ, ước mơ và mục đích cuộc đời người tin Chúa. Lời Chúa đem đến một đời sống mới như hột giống xưa trở nên cây xanh rồi sinh trái: anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.
PL giải thích về quyền năng thay đổi, tái tạo đời sống của lời Chúa trong cuộc đời người được cứu: Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về ĐCT được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16). Không một sách nào, tài liệu nào, lời dạy nào có thể làm được những điều này. Không một sách nào từ xưa đến nay và trong suốt lịch sử con người có quyền năng đổi đời như lời Chúa.
Lời Chúa có quyền năng thay đổi con tim, tấm lòng, trí tuệ người tin. Rất nhiều sách vở, lời dạy giúp con người tăng thêm kiến thức, mở rộng hiểu biết, dạy dỗ cách ăn ở, đạo đức. Nhưng không một sách nào có một ảnh hưởng sâu nhiệm như KT. Lời Chúa thay đổi toàn diện con người từ trong đến ngoài, từ trí tuệ đến tâm linh, từ lời nói, hành động đến mơ ước, mục đích sống.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. 13 Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại. (Hê-bơ-rơ 4:12-13).
Gia-cơ ví lời Chúa như một tấm gương tâm linh. Gương soi cho chúng ta thấy rõ mọi chi tiết của diện mạo. Lời Chúa là tấm gương tâm linh giúp người tin Chúa không chỉ hiểu được tư tưởng và ý định trong lòng, nhưng còn vạch rõ động cơ sâu kín, lột trần lớp đạo đức hào nhoáng nhưng giả tạo, cạn cợt của con người thật bên trong. Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, 24 thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào. 25 Nhưng kẻ nào xét kỹ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời. (Gia-cơ 1:23-25)
Lời Chúa như hột giống còn nói lên một ý rất quan trọng: hột giống phải được gieo sâu vào lòng người để có thể nảy mầm, ra nụ, nở bông, thành cây, kết trái. Đây là ý nghĩa của ngụ ngôn ĐCJC kể về 4 loại đất. Không phải 4 loại giống nhưng 4 loại đất. Chỉ 1 hột giống là lời Chúa nhưng rơi vào 4 loại đất khác nhau.
Loại đất thứ 1 là đất trên đường nơi chim đến ăn mất. Tượng trưng cho quỉ dữ đến cướp điều đã gieo trong lòng mình (Ma-thi-ơ 13:19). Loại đất thứ 2 là nơi đá sỏi cạn cợt, ít đất thịt khiến hột không lớn vì khi mới mọc lên phải hé vì nắng gắt mặt trời. Tượng trưng cho người nhận đạo với sự vui mừng song trong lòng không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự bắt bớ, thì liền vấp phạm. (13:21).
Loại đất thứ 3 là nơi gai mọc rậm khiến hột giống thành cây bị nghẹt ngòi, không lớn được. Tượng trưng cho kẻ nghe đạo mà sự lo lắng về đời nầy, và sự mê đắm về của cải, làm cho nghẹt ngòi đạo và thành ra không kết quả. (13:22). Loại thứ 4 là đất tốt màu mở nơi hột giống thành cây sinh nhiều hột giống mới, gấp 30, 60, 100 lần. Tượng trưng cho kẻ nghe đạo và hiểu; người ấy được kết quả đến nỗi một hột ra một trăm, hột khác sáu chục, hột khác ba chục. (13:23).
Ma-thi-ơ 22:29 viết về lời của ĐCJC cùng các nhà thông giáo và Pha-ri-si: Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh thánh, và cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời thể nào. Thông giáo và Pha-ri-si là những người bỏ thời gian, công sức, chịu khó để nghiên cứu, tìm hiểu, ghi nhớ, suy gẫm và để dạy lại KTCU, luật pháp Mô-se cho dân chúng. Vậy đó mà Chúa bảo họ lầm vì không hiểu KT và hiểu quyền phép ĐCT trong KT. Có nghĩa là hoặc hột giống lời Chúa không thật sự mọc rễ trong lòng họ như loại đất thứ 1 hay 2 theo ngụ ngôn ĐCJC kể. Hay có nghĩa là không phải hột giống hằng sống được gieo vào lòng họ. Có thể lòng họ chỉ chứa đầy sỏi đá, viên gạch, hay viên ngọc dù đắt tiền nhưng hoàn toàn không có sự sống. Vì vậy họ chưa bao giờ kinh nghiệm được quyền năng của ĐCT trong lời Chúa.
Hai bài học thực tế chúng ta có thể rút ra. Thứ nhất để một người tái sanh, người đó phải được nghe, hiểu và tin lời Chúa. Chính lời PL xác nhận điều này: Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng. (Rô-ma 10:17).
Bài học thứ hai là chưa đủ để chỉ biết những dữ kiện, chỉ có kiến thức về lời Chúa nhưng đất của lòng phải được ĐTL chuẩn bị, vun xới, nước nôi làm cho mềm đi để hột giống mới có thể vào sâu trong lòng, mọc rễ, nẩy chồi, thành cây trái. Hột giống lời Chúa dù đầy quyền năng sự sống, quyền năng thay đổi, tái tạo đời sống vẫn không tác dụng nếu đất của lòng người không được ĐTL vun xới, đổ mưa, tưới nước, làm mềm đi trước khi nhận hột giống.
Áp dụng thực tế và cụ thể là khi làm chứng, khi chia sẻ về lời Chúa chúng ta cần khẩn thiết cầu xin ĐTL chuẩn bị đất của lòng người. Bằng không nếu đất của lòng người quá cứng cỏi hay là nơi chim bay đến ăn thì dù lời chia sẻ của tôi, qv có trung thật, thuyết phục đến mấy cũng vô ích. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời của Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta, chính Cha vinh quang ban cho anh chị em tâm linh khôn ngoan và được khải thị để nhận biết Ngài. 18 Soi sáng con mắt trong lòng anh chị em để hiểu thấu niềm hy vọng của ơn Ngài kêu gọi là gì, thế nào là cơ nghiệp giàu có vinh quang của Ngài giữa vòng các thánh, 19 và thế nào là quyền năng vĩ đại siêu việt Ngài dành cho anh chị em, là những người tin, theo như năng lực mạnh mẽ của Ngài hành động. (Ê-phê-sô 1:17-19 – BDM)
Thú thật đây là bài học cho chính tôi cần dành nhiều thời gian hơn nữa để cầu nguyện cho tấm lòng người nghe lời Chúa như dành thời gian chuẩn bị bài giảng.
CÂU CHUYỆN TRONG KINH THÁNH
Sự tái sanh xảy ra thế nào? chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời (1:23) P. giải thích một người được tái sanh bởi hột giống lời Chúa, hay KT. Trong câu 12 P. giải thích rõ hơn, cụ thể hơn hột giống này là gì. P. gọi hột giống của sự tái sanh là Tin Lành. P. giải thích rằng hột giống Tin Lành sinh ra sự tái sanh.
Qv thở dài, nghĩ thầm: có gì mới mẻ về điều này! Dĩ nhiên hột giống Tin Lành sinh ra sự tái sanh. Nhưng tôi xin qv điều này. Làm thế nào để qv có thể nhận biết Tin Lành từ 66 sách KT? Sách nào, đoạn nào, câu nào dạy về TL?
Thường khi nghĩ về TL chúng ta nghĩ về 4 sách Phúc Âm, nghĩ về Giăng 3:16, về Rô-ma 3:23 vì mọi người đều phạm tội thiếu mất sự vinh hiển ĐCT, về Rô-ma 5:8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết, về Ê-phê-sô 2:8-9 Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.
Nhưng khi sứ đồ P. viết thư 1P, KT với P., với PL, với Gia-cơ là gì? Là CU, là ngũ kinh Mô-se, là luật pháp Mô-se. Vậy khi P. viết về Tin Lành, ông viết về lời Chúa trong CU. Tôi muốn cùng qv đọc 1P. 1:10-12 theo BPT để hiểu rõ lời viết vô cùng quan trọng của P., để chúng ta hiểu rõ và đúng về Tin Lành Đấng Christ.
Các nhà tiên tri đã tìm tòi kỹ lưỡng và cố gắng học biết về sự cứu rỗi nầy. Họ đã nói tiên tri về ân phúc sẽ đến với anh chị em. 11 Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự trong các nhà tiên tri và báo cho họ biết trước về những khổ hình mà Đấng Cứu Thế phải chịu cùng với vinh hiển đến sau đó. Các nhà tiên tri ấy cố gắng học hỏi điều Thánh Linh đã tiết lộ cho họ, để biết khi nào những sự việc ấy sẽ xảy ra và thế gian sẽ như thế nào vào thời kỳ ấy. 12 Họ được biết rằng công tác của họ không phải ích lợi cho chính họ mà cho anh chị em, khi họ giảng cho anh chị em biết về chân lý mà anh chị em hiện đang nghe. Những người rao giảng Tin Mừng thuật cho anh chị em các điều ấy—những điều mà chính các thiên sứ cũng ao ước được thấy—qua sự soi dẫn của Thánh Linh, Đấng từ thiên đàng sai xuống. (BPT)
Câu 10 viết về sự cứu rỗi đó, tức là sự cứu rỗi đem đến sự tái sanh qua ĐCJC. Sự cứu rỗi này đã được các tiên tri (thời CỰU ƯỚC) tìm tòi suy sét để làm chứng trước về Đấng Christ. Câu 11 giải thích rằng ĐTL, cùng 1 ĐTL ban cho chúng ta hôm nay, Đấng Yên Ủi, Thần Lẽ Thật đã được ban cho các tiên tri thời CU để giúp họ biết trước về những thương khó ĐCJC phải chịu để cứu toi loài người và về sự vinh hiển sau đó, tức sự sống lại và thăng thiên về trời.
Câu 12: những gì các tiên tri thời CU viết lại cho anh chị em cũng chính là chân lý mà anh chị em đang nghe. Có nghĩa là sự cứu rỗi trong ĐCJC cho mọi người mà tôi P., PL, và Gia-cơ chia sẻ cũng là điều chúng tôi đã học lại từ những gì đã viết lại trước đó trong KTCU. Dĩ nhiên chúng tôi cũng có vinh dự nghe những lời này từ chính ĐCJC mà anh chị em không nhận được vinh dự này. Và P. gọi những điều các tiên tri CU viết về sự cứu rỗi, điều tôi dạy lại anh chị em là Tin Lành.
Tóm lại P. giải thích rõ rằng Tin Lành không chỉ là những điều viết về ĐCJC trong KTTU nhưng cũng chính là những gì các tiên tri CU viết về sự cứu rỗi. Nói cách khác cả KTCU & TU đều viết về Tin Lành, về sự cứu rỗi đem đến sự tái sanh.
Đây là ý nghĩa của lời ĐCJC dạy hai môn đồ trên đường Ê-ma-út: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! 26 Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? 27 Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh thánh. (Lu-ca 24:25-27)
Trong 66 sách KT có biết bao nhiêu câu chuyện, lời dạy. Nhưng qua lời của ĐCJC và lời của P. trong 1P 1:10-12 KT dạy tôi và qv một điều quan trọng này: Cả KT đều viết về một câu chuyện, đó là tin lành, tin vui mừng về sự cứu rỗi của ĐCJC cho tội lỗi con người, và cả KT đều viết về một nhân vật chính cứu tội con người là ĐCJC.
Qv có thể nghĩ: làm thế nào MS có thể nói cả KT đều viết về một câu chuyện? Chẳng phải KT còn có biết bao nhiêu câu chuyện khác hay sao? Về Giô-sép, Đa-vít, về A-đam & E-va, về A-bên, Áp-ra-ham, Y-sắc, Gia-cốp, Ê-xơ-tê, Ru-tơ, vân vân và vân vân hay sao?
Chính ĐCJC dạy hai môn đồ trên đường Ê-ma-út điều này: Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh thánh. Cả KT đều chỉ về Ngài. Lời của ĐCJC là lý do duy nhất đủ để chúng ta tin tưởng và chấp nhận. Đây cũng chính là lý do chúng ta tin vào KTCU: bởi vì ĐCJC tin vào KTCU.
Qv hỏi MS có thể dẫn chứng vài thí dụ rằng các câu chuyện trong KTCU đều viết về Đấng Christ. Ví dụ về A-đam. PL giải thích điều này cho qv trong 1 Cô-rinh-tô 15:45 Vì Kinh Thánh chép: “Người đầu tiên, A-đam, trở nên một linh hồn sống, còn A-đam cuối cùng trở nên một thần linh ban sự sống.” A-đam cuối cùng chính là ĐCJC. Ngài mới chính là A-đam ban sự sống, khi đối diện với thử thách, cám dỗ đứng vững và chiến thắng.
ĐCJC là A-bên thật và tốt hơn. Huyết vô tội Chúa đã đổ ra không phải để buộc tội như huyết A-bên đã buộc tội Ca-in nhưng đã đổ ra cho tội của muôn người để họ nhận được sự tha thứ, ân điển và sự sống.
ĐCJC là Y-sắc thật và tốt hơn. Không như Y-sắc được chuộc lại mạng sống bởi con chiên ĐCT ban cho, ĐCJC chịu chết để làm của lễ sinh chuộc tội muôn người. ĐCJC là Giô-sép thật và tốt hơn, người đã đi trước các anh đến xứ xa chịu khổ để chuẩn bị cho sự cứu tội, để tha thứ cho những người đã hại mình, và hiện đang ngồi bên hữu ĐCT để cầu thay cho chúng ta.
ĐCJC là Đa-vít thật và tốt hơn. Đa-vít hy sinh mạng sống để đại diện cả dân sự Ỵ đánh với kẻ thù G. ĐCJC hy sinh mạng sống Ngài để chết thay cho mọi dân trên đất, để ai tin cậy vào sự chết và sống lại của Ngài không phải đối diện sự chết đời đời nhưng được sự sống đời đời. ĐCJC chính là hòn đá Mô-se dùng trượng đập vào để dân sự được cứu khỏi khát trong xa mạc xưa và là nguồn nước của sự sống vĩnh hằng, nước người uống không còn khát nữa.
ĐCJC chính là Con Chiên cuối cùng và trọn vẹn chết một lần cho tội loài người mà từ ngàn năm trước đó bao nhiêu con chiên đã phải chịu chết cho tội của dân sự Chúa. ĐCJC là Giô-na thật và tốt hơn. Đấng đã chịu chôn vào mồ tối ba ngày đêm để sống lại cứu ai tin Ngài. ĐJC là Gióp thật và vô tội đã gánh chịu muôn tội và cầu thay cho dân Ngài, cho các môn đồ, cho cả những kẻ chỉ trích, mắng nhiếc Ngài. Tất cả các nhân vật và câu chuyện CU đều chỉ về Jesus.
Đây không phải là sự giải thích gượng ép nhưng là một sự thật trong KT. Chỉ khi chúng ta hiểu rõ rằng các nhân vật và câu chuyện trong KT đều nhằm để chỉ về ĐCJC, chúng ta mới tìm được niềm vui và sự yên ủi thật sự khi đọc và áp dụng lời Chúa. Thử nghĩ về câu chuyện Đa-vít và Gô-li-át. Nếu G. là biểu tượng của những nan đề vượt quá khả năng giải quyết và Đa-vít là người tin Chúa thì bài học là gì? Trong Chúa chúng ta phải trở nên mạnh mẽ, can đảm như Đa-vít để có thể vượt thắng mọi nan đề khổng lồ trong đời. Phải đối diện với thất bại khổng lồ, đối diện với những đau khổ khổng lồ. Qv có thể chiến thắng. Nếu vậy thì sao gọi là tin lành, tin mừng? Chỉ khi chúng ta hiểu rằng Đa-vít xưa nhằm để chỉ về một Đa-vít thật, một anh hùng thật đã chiến thắng tên khổng lồ của tội lỗi và sự chết, chúng ta mới có hy vọng và yên ủi. Vì ĐCJC đã chiến thắng nên tôi nhận được chiến thắng trong Chúa.
KỲ DIỆU CỦA LỜI CHÚA
P. viết trong câu 12 rằng chính các thiên sứ cũng ước ao được biết về Tin Lành. Những người rao giảng Tin Mừng thuật cho anh chị em các điều ấy—những điều mà chính các thiên sứ cũng ao ước được thấy—qua sự soi dẫn của Thánh Linh, Đấng từ thiên đàng sai xuống. (BPT)
Hê-bơ-rơ 2:7 trích TT 8:5 khi nói về loài người: Loài người là gì mà Chúa nhớ đến. Con loài người là chi mà Chúa lưu ý. 7 Chúa đặt con người thấp hơn các thiên sứ một chút. Thiên sứ cao trọng hơn loài người. Cao trọng hơn về sự thông sáng, về vinh hiển, về sự dài hạn của đời sống. Vậy đó mà chính thiên sứ cũng ao ước được biết rõ hơn về Tin Lành, về KT viết về ĐCJC. Nói cách khác, thiên sứ ao ước được hiểu rõ hơn về những gì Ba Ngôi ĐCT đã dự tính từ trước muôn đời, đã thực hiện trong thời điểm và ý chỉ đã định để Ngôi Hai xuống thế gian chịu chết cho tội lỗi con người, rồi Ngôi Ba được ban cho những người được chọn từ trước muôn đời nghe, tin nhận sự cứu rỗi của ĐCJC để giúp họ thay đổi ngày càng giống hơn Đấng Christ. Đây là những kỳ diệu, mầu nhiệm mà thiên sứ ước ao được biết.
TL trong KT không chỉ là sứ điệp về sự chết và sống lại của ĐCJC cho tội lỗi con người để họ được tái sanh. TL còn là lý do để chúng ta có hy vọng và niềm vui trong đời sống. Vì qua TL chúng ta không chỉ biết Chúa nhưng còn có quan hệ với Ngài.
