Bình An Thịnh Vượng Chúa Ban – Giê-rê-mi 29:11-13
Chúa phán: “Vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng. Khi các ngươi kêu cầu Ta, khi các ngươi đến với Ta và nài khẩn Ta, Ta sẽ nhậm lời các ngươi. Các ngươi sẽ tìm Ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng. (Giê-rê-mi 29:11-13 - BDM)
TÂM TRẠNG KHI XUÂN ĐẾN
Đối với người hoặc lớn tuổi hoặc vẫn còn người thân bên VN thì tâm trạng, suy nghĩ, thái độ đó là hồi tưởng và hoài vọng. Nhớ lại những ngày xưa và kỷ niệm đã qua.
Với các em sinh ra trên xứ này thì đó là mơ tưởng và ước vọng.
Với những người đã trải qua nhiều thất vọng, mất mát, đau khổ và có thể vẫn còn đang kinh nghiệm những điều đó thì tâm trạng đó là ảo tưởng và thất vọng.
Nhưng với người tin Chúa thì tâm trạng phải là thiên tưởng và hy vọng. Thiên là Trời, là Chúa. Thiên tưởng là suy nghĩ, tin tưởng vào Chúa. Vì chỉ có trong Chúa chúng ta mới thật sự có hy vọng.
Một số hỏi đâu phải chỉ khi tin Chúa, có Chúa thì mới có hy vọng. Phải chăng người đời cũng có nhiều hy vọng hay sao? Hy vọng vào thị trường chứng khoáng. Hy vọng vào tài năng, sức lực. Vào khoa học, kỷ thuật; vào kinh tế, giáo dục; vào gia đình, bè bạn. Nhưng điều khác nhau căn bản nhất giữa hy vọng vào những điều này và vào ĐCT là sự bền vững, không thay đổi, và sự chắc chắn. Dù trong bất kỳ cảnh ngộ, thời gian và nơi chốn nào. Hơn thế nữa hy vọng vào Chúa không chỉ cho đời này nhưng cho cả đời sống vĩnh cửu nơi thiên đàng.
GIÊ-RÊ-MI VÀ HOÀN CẢNH ĐEN TỐI CỦA DÂN SỰ
Hy vọng như năng lượng, nhiên liệu cho xe chạy, cho nhà máy hoạt động. Hy vọng giúp chúng ta tiếp tục cho dù hiện tại có khó khăn đến mấy thì vẫn tin rằng ngày mai sẽ đổi khác. Mất hy vọng thì đời sống này còn gì ý nghĩa, còn gì ý muốn để tiếp tục. Dù hoàn cảnh thế nào nhưng hễ còn hy vọng thì còn có thể vượt qua được nhưng khi lửa hy vọng đã tắt nguội thì đời sống sẽ chết.
Cuộc sống không phải là thiên đàng trên đất, đầy màu hồng, đầy tiếng cười. Cuộc sống có lúc vui, lúc buồn, có thung lũng của thất vọng, mất mát nhưng cũng có đỉnh cao của hạnh phúc và thắng lợi. Chính trong thung lũng là nơi chúng ta cần hy vọng nơi Chúa hơn hết.
Đoạn KT trong Giê-rê-mi 29:11 vô cùng ý nghĩa và quan trọng cho mỗi chúng ta trong năm mới này. Tại sao? Vì đây chính là lời của ĐCT phán trực tiếp cùng dân sự Ngài trong thời gian họ lo lắng, thất vọng, thậm chí đau khổ vì hoàn cảnh sống hiện tại nơi xứ người. Người được ĐCT dùng để viết lại những lời này là tiên tri Giê-rê-mi. Ông được gọi là tiên tri than khóc bởi vì ông khóc rất nhiều lần khi thấy những điều thương tâm xảy ra cho đất nước, dân chúng như . Khóc cũng bởi vì sự cứng lòng của dân sự từ chối nghe và làm theo lời Chúa. 23 năm dài ông nói với dân sự về lời Chúa nhưng họ từ chối lắng nghe. Nếu ai có thể nói về hy vọng thì đó là Giê-rê-mi hay một người như Giê-rê-mi.
Ông chứng kiến sự bao vây và thất thủ của thành Giê-ru-sa-lem. Ông chứng kiến cảnh nhà cửa bị tàn phá, dân chúng bị bắt giải làm nô lệ, phu tù sang xứ sa Babylon. Chính bản thân ông cũng bị bắt giải đi nhưng được thả trở về lại thành Jerusalem. Và với chính kinh nghiệm bản thân, với chính mắt thấy, tai nghe về những thung lũng trong đời mình và dân sự, Giê-rê-mi được ĐCT dùng để viết lại lời hứa rất quí báu này: Chúa phán: “Vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng.
Đoạn KT này mang một ý nghĩa đặc biệt bởi vì được viết cho dân sự đang lưu đày nơi xứ Babylon. Họ là tù nhân, nô lệ, những kẻ thua cuộc. Họ bị bắt giải đi hằng trăm dặm đường. Lo sợ cho tính mạng, lo sợ cho người thân trong gia đình, lo sợ cho tương lai, sinh sống thế nào nơi đất lạ mà họ chỉ là những kẻ thua cuộc.
Ai trong quí vị có tâm trạng như dân sự ngày xưa đó? Cảm thấy mình như là người bại trận, mất mát biết bao nhiều trước đó đã có. Sinh sống trong một hoàn cảnh xa lạ. Hoang mang về tương lai, không biết sẽ ra sao. Những câu KT này dành cho quí vị sáng nay.
CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA CHO MỖI NGƯỜI
ĐCT nói cùng dân sự Ngài 2 ý: 1) Chúa biết rõ chương trình đã hoạch định cho họ, 2) Chương trình đó cuối cùng sẽ đem đến bình an thịnh vượng, chứ không phải tai họa.
Từ chương trình đây cũng có thể dịch là ý tưởng, suy nghĩ, kế hoạch, dự tính. Đây là những điều thuộc về Chúa, trong ý tưởng, suy nghĩ, trong dự tính của Ngài. Dù ĐCT đã khải thị cho loài người ý tưởng, dự định của Ngài phần nào qua KT nhưng chắc chắn rằng không ai có thể biết hết được mọi điều trong dự tính từ đời đời cho đến đời đời của Chúa. Tôi có thể biết phần nào ý định của Chúa cho đời sống tôi nhưng không thể nào biết được ý Ngài cho đời sống anh Dũng, chị Hà một cách cụ thể.
Nhưng câu KT này cho biết rõ rằng chính ĐCT từ trước khi chúng ta sinh ra, từ trước khi chúng ta đi qua những thung lũng trong đời sống thì Ngài đã có một chương trình, một dự tính. Ngài nghĩ về tôi, anh, chị trước mọi người, dù là cha mẹ hay chính bản thân mình.
Tác giả TT cho chúng ta biết ý nghĩ của ĐCT với con dân Ngài liên tục, không dứt: Mắt Chúa đă thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, Đă biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy. Hỡi Đức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quí báu cho tôi thay! Số các tư tưởng ấy thật lớn thay! Nếu tôi muốn đếm các tư tưởng ấy, thì nhiều hơn cát. Khi tôi tỉnh thức tôi còn ở cùng Chúa (TT 139:16-18) Khi con còn phôi thai, Chúa thấy con. Sách Chúa ghi chép đời con từng ngày. Trước khi con sinh ra Chúa nghĩ đến con với lòng ưu ái: Vô số tư tưởng cao quý! Chúa nghĩ đến con với lòng ưu ái: Vô số tư tưởng cao quý! Tư tưởng Chúa dành cho con nhiều hơn cát. Khi con thức giấc, Chúa vẫn nghĩ đến con. (BDY)
Không có gì trong đời chúng ta xảy ra khiến Chúa ngạc nhiên cả. Khi đọc một quyển sách hay xem một cuốn phim, chúng ta hồi họp, lo lắng khi thấy nhân vật mình yêu chuộng gặp khó khăn, đau buồn khi chết. Nhưng đối với tác giả thì không có gì ngạc nhiên cả. Trước khi nhân vật và diễn tiến cuộc đời được viết ra giấy trắng mực đen hay diễn bởi tài tử trên màng ảnh thì mọi điều đã ở trong trí của tác giả.
Được Chúa biết trong mọi cảnh ngộ của đời sống là một yên ủi lớn đến chừng nào. Tôi nhớ một ngày khi mới bắt đầu dạy học ở VN khoảng năm 1978. Nhà tôi cách trường gần 12 miles. Đi xe đạp phải mất gần 40-45 phút. Thời đó trường tôi dạy nghèo lắm, làm gì có tủ lạnh cho giáo viên để cơm. Nên chỉ có thể gói cơm đủ ăn cho một buổi. Hôm đó vừa đói vì ăn không đủ, vừa mệt vì đạp xe đường xa, vừa lo lắng buồn rầu vì không biết có phải sẽ bị đưa đi biên giới như nhiều người, tôi dắt xe đạp vào nhà. Khỏi nhìn thì má tôi đã biết tâm trạng con mình. Rồi nói với tôi bà có cất một lít xăng để dành khi có chuyện nhưng ngày mai tôi có thể dùng để đi bằng honda thay vì đạp xe đạp. Nhiều lần tôi nghĩ về câu chuyện này. Dĩ nhiên đối với quí vị nó không có một ý nghĩa và ấn tượng sâu đậm như với tôi. Nhưng là người trong hoàn cảnh đó một lít xăng mẹ tôi dành cho tôi là một yên ủi, động viên mang một ý nghĩa vô cùng sâu đậm. Tại sao? Mẹ tôi quan tâm đến tôi và lo lắng cho tôi trong lúc hữu sự.
Trong bước đi với Chúa gần 30 năm qua bao nhiêu lần tôi kinh nghiệm được sự quan phòng của ĐCT. Cũng như nhiều quí vị hiện diện đây đã kinh nghiệm trong bước đi với Chúa.
Chúa chúng ta có một dự tính cho mỗi người từ trước khi chúng ta sinh ra và hiện đang thực hiện dự tính đó. Ngài không ngạc nhiên khi dân sự bị bắt giải đi sang xứ Babylon. Chúa cũng không ngạc nhiên về những hoàn cảnh khó khăn quí vị đang trải qua.
Chương trình, dự tính của Chúa tailor-made cho mỗi cá nhân. Vì Chúa biết tính tình, mong ước, sở thích, hoàn cảnh của mỗi cá nhân.
Mục đích của dự tính Chúa là đem đến một tương lai đầy hy vọng với bình an và thịnh vượng. Sau 70 năm dân sự bị lưu đày tại Babylon được ĐCT đem về lại thành Jerusalem. Tại sao 70 năm thay vì 7 năm? KT không cho chúng ta biết rõ lý do. Chỉ biết rằng 70 nằm trong dự tính của ĐCT. Trong 70 năm đó đế quốc Babylon một thời thống trị cả thế gian mất đi quyền bá chủ. Một đế quốc khác lên thay (Persia). Chúng ta hỏi tại sao 430 năm nô lệ tại xứ Ai Cập thay vì 43 năm? Dù KT không cho biết rõ lý do thì không có nghĩa là ĐCT không biết rõ lý do vì có nhiều điều Chúa chọn không giải thích, nhưng chính Ngài biết rất rõ.
CHƯƠNG TRÌNH BÌNH AN THỊNH VƯỢNG
Nhiều người có ý nghĩ hết sức sai lầm về ĐCT. Họ nghĩ Chúa trên cao luôn luôn cầm roi, canh chừng khi con người làm sai để trừng phạt. Không, hoàn toàn không đúng. ĐCT trong KT là một người cha nhân từ, đầy lòng yêu thương, chậm nóng giậm và mau làm ơn cho con dân Ngài. Vâng Chúa thánh khiết nên không thể bao dung chấp nhận tội lỗi. Chúa công bình nên không thể để tội lỗi lan tràn không trừng phạt. Nhưng Chúa sẵn sàng tha thứ khi con dân Ngài thật lòng ăn năn. Và hơn hết Chúa sẵng lòng ban ơn phước cho người thuộc về Ngài: Dầu vậy, Đức Giê-hô-va còn chờ đợi để làm ơn cho các ngươi; Ngài sẽ được tôn lên mà thương xót các ngươi; vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công nghĩa. Phước thay cho mọi kẻ trông đợi Ngài! (Ê-sai 30:18). Vì hỡi Đức Giê-hô-va, chính Ngài sẽ ban phước cho người công bình, Lấy ơn vây phủ người khác nào bằng cái khiên. (TT 5:12)
Chính ĐCJC cũng giải thích cho các môn đồ rằng ĐCT muốn ban cho con dân Ngài điều tốt đẹp, lợi ích: Trong các ngươi có ai, khi con mình xin bánh, mà cho đá chăng? Hay là con mình xin cá, mà cho rắn chăng? Vậy nếu các ngươi vốn là xấu, còn biết cho con cái mình các vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao? (Ma-thi-ơ 7:9-11).
Dự tính và chương trình của ĐCT cho dân Ngài là bình an, thịnh vượng, ơn phước, chứ không phải tai họa dù khi những điều xảy ra tưởng như tai họa. Tín đồ thường hiểu lầm về 2 điều: 1) Rằng ơn phước Chúa chỉ hoàn toàn về tâm linh, chứ không bao gồm lời hứa về vật chất. 2) Lầm rằng ơn phước Chúa chỉ toàn về vật chất. Bình an, thịnh vượng là cho cả phần xác lẫn phần hồn.
Hãy nghe lời chúc của Giăng: Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đă được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy (3 Giăng 2).
