Bài Học Đức Tin – Ma-thi-ơ 2:1-11
Nhiều năm trước đây sau một bài giảng GS trong đó có các bác sĩ từ phương đông thì có người gởi email trách tôi giảng sai. Người đó nói rằng tại sao MS mà lại không biết rằng chỉ có ba vua có tên tuổi rõ ràng đến thờ lạy Jêsus. Sao lại giảng rằng các nhà thiên văn (bác học, thông thái)! Theo truyền thuyết có ba vua có tên là Caspar, vua của Tarsus, đất của nhủ hương; Melchior, vua xứ Arabia, đất của vàng; Balthasar, vua của Saba (SAY-ba) hay Sheba, nơi một dược đầy cây. Rồi cũng theo truyền thuyết sau đó sứ đồ Thomas gặp lại ba vua này tại xứ Ấn Độ và báp-tem cho họ. Sau đó họ chết vì đạo và được chôn trong bức tường thành Jerusalem.
Tuy nhiên không nơi nào trong KT gọi họ là vua hay cho chúng ta biết về con số lẫn tên của các bác sĩ này. Ma-thi-ơ chỉ cho biết: có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem. Mấy có nghĩa là 3 hay 5 hay 10. Nếu có 5 người thì khi dâng ba của lễ vật: vàng, nhũ hương, một dược, họ có thể chọn 3 người đại diện để dâng. Những người bác sĩ, hay thông thái này là ai? Từ magi là tiếng Hy-lạp mượn từ tiếng Persian (Phê-ri-sê) magus có nghĩa là giàu có, quyền thế, tài giỏi. Một sử gia Hy-lạp nổi tiếng là Herodotus dùng từ này để nói về một thầy tế lễ có tài giải mộng. Trong bài giảng này thay vì gọi là những nhà thông thái (BD2011), tôi sẽ dùng từ bác sĩ phương đông (hay đông phương), hay bác sĩ như các bản dịch cũ.
Một đêm tháng 12 cách đây hơn 400 năm (1603), một toán học gia và thiên văn gia của học viện hoàng gia Anh Quốc tên Johannes Kepler quan sát các thiên thể, ngôi sao trên bầu trời của một đêm đông lạnh. Ông nhận thấy 2 hành tinh của thái dương hệ là Sao Mộc (Mộc Tinh – Jupiter) và Sao Thổ (Thổ Tinh – Saturn) di chuyển vào chòm đại hùng tinh Pisces [pai-si]. Từ trái đất nhìn lên bầu trời đêm, hai hành tinh này như hợp lại thành một ngôi sao thật to lớn và sáng rực. Nhà thiên văn Kepler nhớ đến lời viết của một giáo sĩ Do Thái Giáo tên Abarbanel rằng khi Sao Mộc và Sao Thổ hợp lại trong chòm đại hùng tinh Pisces thì Đấng Cứu Tinh đã ra đời. Phải chăng đây là ngôi sao dẫn đường cho các bác sĩ Đông Phương trong câu chuyện giáng sinh? Sau khi tính toán, Kepler kết luận rằng lần cuối khi hai ngôi sao này hợp lại trong chòm đại hùng tinh Pisces là vào năm 7BC. Mấy trăm năm trời trôi qua không ai chú ý đến kết luận này của Kepler. Mãi đến năm 1925, một học giả người Đức tìm thấy trên các bản viết cổ từ một trường thiên văn học tại Sippar xác nhận rằng vào năm 7BC quả thật Sao Mộc và Sao Thổ đã hợp lại với nhau như Kepler đã kết luận.
Phải chăng sự kiện hai hành tinh này hợp lại với nhau trở nên một ngôi sao thật sáng cũng là sự kiện Mathiơ đã ghi lại trong câu chuyện giáng sinh về ngôi sao sáng dẫn đường các bác sĩ (thông thái) từ phương Đông đến Bếtlêhem để thờ lạy hài nhi Jêsus? Chúng ta không biết chắc chắn về điều này. Chúng ta chỉ biết KT viết các thầy thông giáo (bác sĩ) từ phương đông theo một ngôi sao sáng đến tìm một vị vua vừa sanh, được nhìn thấy tận mắt, được dâng của lễ quí và để được thờ lạy
Ba điều trong bài giảng này: 1) Tin dù không hiểu rõ; 2) Tin dù không ai biết, không được danh; 3) Tin dù gặp khó khăn, tốn kém.
TIN DÙ KHÔNG HIỂU RÕ (CÁC BÁC SĨ ĐI THEO NGÔI SAO SÁNG)
. Ma-thi-ơ 2:1-10 có 4 lần nói đến ngôi sao sáng lạ đó trong câu 2, 7, 9, 10. Theo câu 2, khi thấy ngôi sao từ phương đông là nơi các bác sĩ ở thì họ làm gì? Họ tin ngôi sao sáng là khải tượng của sự ra đời của một vị Vua Lớn của dân Giu-đa, một Đấng Lạ Lùng, và lặn lội đường xa đến chiêm ngưỡng và tặng lễ vật. Chú ý lời các bác sĩ gọi con trẻ mới sinh là Vua dân Giu-đa: Khi Đức Chúa Jêsus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, 2 mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài. (Ma-thi-ơ 2:1-2)
Sách 2 Các Vua 24-25 cho biết vị vua cuối cùng của xứ Giu-đa là ai. 2 Các Vua 24:18 cho biết vào năm 597 BC vua Nê-bu-cát-nê-xa vây hãm thành Giê-ru-sa-lem, vua Giê-hô-gia-kim của xứ Giu-đa đầu hàng, rồi bắt giải sang xứ Babylon. Sau đó vua N. lập lên một vị vua bù nhìn là vua Sê-đê-kia (Zedekiah). Nhưng vua Sê-đê-kia lại nổi loạn. Nên vua N. một lần nữa vây hãm thành Giê-ru-sa-lem. Khi thành thất thủ, vua và các con trai bị bắt và giải trước vua N. để chịu xử. Theo 2 Các Vua 25:7, vua N. ra lệnh cho quân lính: giết các con trai Sê-đê-kia trước mặt người; đoạn, chúng nó móc mắt Sê-đê-kia xiềng người bằng xích đồng, rồi dẫn người đến Ba-by-lôn. Sau đó giặc Ba-by-lôn (bản dịch VN gọi là Canh-đê), tàn phá thành Giê-ru-sa-lem, rồi đốt rụi cả đền thờ vào năm 586 BC. Đây là một kết thúc vô cùng bi thảm của vua xứ Giu-đa và của cả xứ Giu-đa.
Vậy KT cho biết rằng vị vua cuối cùng của xứ Giu-đa là vua Sê-đê-kia, bị bắt giải sang xứ Babylon, hai mắt bị móc, tay chân bị xiềng bằng xích đồng khoảng 580 năm trước khi ĐCJC giáng sinh. Trong suốt 580 năm dài đó mãi cho đến khi các bác sĩ phương đông đến thành Giê-ru-sa-lem thì xứ Giu-đa không có vua. Vì vậy khi nghe lời của các bác sĩ phương đông về vua Giu-đa mới sinh, vua Hê-rốt và các thầy tế lễ và thông giáo và cả thành Giê-ru-sa-lem đều xôn xao.
Tại sao Hê-rốt xôn xao, bối rối, lo sợ? Hê-rốt được gọi là vua xứ Giu-đa là do đại đế La-mã phong chức. Hắn không được dân chúng chọn và cũng không thuộc dòng giỏi các vua Giu-đa. Dân chúng Do Thái thời đó cũng không xem Hê-rốt là vua của họ. Vì vậy khi nghe tin một vị vua Giu-đa mới sinh, làm sao Hê-rốt không lo sợ? Đến nỗi hắn ra lệnh giết tất cả các trẻ em dưới 2 tuổi trong làng Bết-lê-hem.
Tại sao các thầy tế lễ và thông giáo xôn xao, bối rối, lo sợ? Bởi vì đã trên 500 năm, xứ Giu-đa không có vua, và khi các bác sĩ phương đông đến thì xứ Giu-đa là một thuộc địa bị quân La-mã chiếm đóng. Nên nếu lời của các bác sĩ phương đông là thật thì con trẻ mới sanh này quả thật là một Đấng Cứu Tinh sẽ giải cứu họ ra khỏi vòng đô hộ của đế quốc La-mã. Lời của các bác sĩ đông phương cũng nhắc cho các thầy tế lễ và thông giáo về lời của tiên tri Ê-sai viết 700 năm trước đó: Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. (9:5)
Một điều vô cùng ngạc nhiên là tin về sự ra đời của vua Giu-đa, ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai lại được thông báo bởi những người ngoại từ nơi xa xăm! Các bác sĩ phương đông không biết về Ê-sai, về lời tiên tri viết về Đấng Lạ Lùng, Cha Đời Đời đó. Họ đi tìm chỉ vì tin rằng ngôi sao là khải tượng của sự ra đời của một vị Vua Lớn của dân Giu-đa. Khi đi họ không biết mình sẽ đi đâu, họ chỉ dõi theo ngôi sao sáng chỉ đường. Như Áp-ra-ham được Chúa gọi rời khỏi quê hương, vòng bà con, đi đến xứ mà Chúa sẽ chỉ cho ông. Sách Hê-bơ-rơ 11:8 người đi mà không biết mình đâu. Ông chỉ trông cậy vào sự chỉ dẫn của ĐCT.
Hay như dân sự Chúa khi ra khỏi xứ Ai-cập và đi trong đồng vắng 40 năm trời, ban ngài có đám mây che, ban đêm có trụ lửa Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm. (Xuất 13:21). Khi đám mây di chuyển, dân sự dở lều đi theo hướng đám mây đi ban ngày; khi trụ lửa di chuyển ban đêm, dân sự dở lều đi theo hướng trụ lửa dù là ban đêm. Dân sự đi không biết họ đi đâu, chỉ theo sự dẫn dắt của ĐCT qua đám mây và trụ lửa.
Đây là bài học quí báu về đức tin từ các bác sĩ phương đông: họ đi mà không biết mình đi đâu, chỉ hoàn toàn trông cậy vào ngôi sao sáng dẫn đường. Bao nhiêu người tin Chúa có đức tin như vầy? Chúng ta muốn biết chắc chắn nơi nào sẽ định cư, công việc làm là gì, lương bổng bao nhiêu, nhà cửa thế nào, lập gia đình với ai, có mấy người con, con có làm bác sĩ hay không? Vì muốn biết tương lai nên biết bao người bỏ hàng trăm, hàng ngàn đồng, lặn lội đường xa, tốn thời gian để xin tướng số, xem tử vi, cầu đồng bóng.
KT dạy gì về đức tin? Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. (Hê-bơ-rơ 11:1) Điều đang trông mong là điều chưa được, chưa có, chưa thấy. Lạ hơn là khi KT định nghĩa đức tin là bằng chứng của những điều không thấy!
Khi ĐCJC sống lại và hiện ra cho một số môn đồ nhưng Thô-ma không có đó. Khi các môn đồ kể lại, Thô-ma không tin, bảo rằng chỉ khi nào chính tay ông đặt vào lỗ đinh đóng trên tay, nơi giáo đâm bên hông Chúa thì ông mới tin. Thô-ma là tượng trưng cho rất nhiều người tín đồ trong vòng chúng ta: có thấy tận mắt, có hiểu rõ ràng, có biết chắc chắn mới tin. Khi ĐCJC hiện ra cùng Thô-ma, Chúa phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy! (Giăng 20:29)
Theo truyền thuyết Thơ ma…
Khi ra đi bác sĩ phương đông không biết sẽ đi đâu, mất bao nhiêu thời gian, tốn bao nhiều tiền của; không biết vua Giu-đa ra sao, có tiếp đón họ. Họ lấy đức tin mà đi theo sự hướng dẫn của ngôi sao sáng. Khi các thầy tể cả và thông giáo xôn xao, nghi ngờ thì không vì đó mà họ bỏ cuộc, mất niềm tin. Họ tin dù khi đến nơi họ chỉ thấy chuồng chiên máng cỏ nhơ nhớp hay căn nhà nhỏ hẹp, nghèo nàn: Lẽ nào vua lại sinh ra tại nơi nghèo nàn, hôi hám, thấp hèn vậy sao? Họ tin dù khi nhìn thấy Ma-ri, Giô-sép một cặp vợ chồng thợ mộc tầm thường, nghèo khó thì làm sao có thể sinh ra một vua xứ Giu-đa, vì như tục ngữ VN có câu: Con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa lại quét lá đa. Họ tin dù không nhận được khải tượng trong giấc chiêm bao hay nghe lời nào từ thiên sứ, ngoại trừ dấu ngôi sao trên bầu trời đêm. Họ tin dù không biết lời của tiên tri Ê-sai như những người Pha-ri-si, thầy tế lễ. Quả thật đức tin của họ quá lớn và thật đáng kính trọng. Đức tin thật sự trong Chúa phải thể hiện qua hành động dù chưa hiểu biết rõ ràng, chi tiết, dù khi không có bằng chứng chắc chắn.
Ngày nay chúng ta đòi hỏi bằng chứng trước khi tin. Có người đòi hỏi phép lạ: Chúa chửa lành bệnh cho tôi hay cho chồng vợ, con cái tôi trước khi tôi tin. Có người đòi hỏi bằng chứng hay lý lẽ rõ ràng chứ không chỉ tin cách mù dại, thiếu hiểu biết.
Khi phi hành gia Nga Sô Pavel Popovich được hỏi năm 1962 ông có thấy ĐCT trong chuyến bay. Ông trả lời cách mỉa mai: “Có, tôi có thấy ĐCT. Tôi hỏi tên ông và ông trả lời ông là Andrian Nikolayev (tên của người đồng chuyến bay)” Trái lại, vào đêm Giáng Sinh 24 tháng 12, 1968 khi phi thuyền Apollo 8 vào quỉ đạo mặt trăng các phi hành gia HK đã có một chương trình truyền hình trực tiếp chiếu hình trái đất và mặt trăng từ phi thuyền. Khi kết thúc chương trình phi hành gia William Anders có lời: “For all the people on Earth the crew of Apollo 8 has a message we would like to send you”. Rồi ông đọc STK 1:1-4, sau đó phi hành gia Jim Lovell tiếp tục đọc STK 1:5-8. Cuối cùng phi hành gia trưởng Frank Borman đọc STK 1:9-10 và kết thúc với lời chúc: “Merry Christmas, and God bless all of you – all of you on the good Earth” Cả hai nhóm phi hành gia Nga và Mỹ đều không thấy ĐCT nhưng Popovich thì lại chế diễu, không tin; còn Anders thì tin vào sự hiện hữu của Đấng đã sáng tạo không gian, vũ trụ bao la, cùng muôn loài sinh động vật trên địa cầu.
Có người trải qua đau khổ, mất mát, bệnh tật, đức tin càng thêm mạnh mẽ. Niềm tin vào ĐCT, vào tình yêu thương của Ngài đối với họ càng rõ hơn, càng quí báu, ngọt ngào hơn. Những cũng có bao nhiêu người mất niềm tin khi trải qua cùng những cảnh ngộ đau khổ đó hay khi chỉ chứng kiến những khổ đau chung quanh. Cùng một thế giới, một sự thật nhưng sinh ra hai niềm tin, hai quyết định!
Đức tin của các bác sĩ từ phương đông là đức tin đáng trọng, đức tin làm vui lòng ĐCT. Như lời KT dạy trong Hê-bơ-rơ 11:6: Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài. Đây cũng chính là đức tin mỗi chúng ta đều cần học hỏi làm theo.
TIN DÙ KHÔNG ĐƯỢC DANH (CÁC BÁC SĨ VÔ DANH)
KT có dụng ý khi không đề cập đến con số bao nhiêu hay tên của các bác sĩ. Dụng ý đó là để cho biết rằng ĐCT luôn luôn có những người ẩn danh nhưng thật sự yêu mến, trung tín, có tấm lòng tìm cầu Chúa từ những nơi xa xôi nhất, nơi mà chúng ta ít nghĩ đến.
Sách 1 Các Vua 19 kể lại câu chuyện về tiên tri Ê-li. Khi bị hoàn hậu Giê-sa-bên hăm giết, tiên tri Ê-li sợ hãi bỏ chạy. Ông tuyệt vọng đến nỗi mong ĐCT lấy mạng sống đi. Chúa ban cho ông thức ăn, nước uống để hồi phục lại sức lực mà đi 40 ngày đêm đến núi Hô-rép, là nơi Mô-se nhận 10 điều răn. Hai lần tiên tri Ê-li than cùng ĐCT rằng chỉ còn một mình ông là tiên tri trung tín còn sống sót phục vụ Chúa. ĐCT trả lời Ê-li: Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó. (1 Các Vua 19:18) KT không cho biết một tên nào trong số 7000 người trung tín với ĐCT này. Họ đã được ĐCT biệt riêng, chọn để phục vụ, dù là những người vô danh. Rất nhiều tín đồ mong được làm tiên tri Ê-li nổi tiếng hơn là trong số 7000 người trung tín được ĐCT chọn riêng để hầu việc Ngài như Ê-li.
Thường chúng ta nghĩ rằng những người đạo dòng, lớn lên trong gia đình tin Chúa là những người sẽ đến thờ phượng Chúa. Không hẳng vậy! Hoặc những người gần nhà thờ là những người mau nhất đến thờ phượng. Không chắc! Có tên hay không tên, xa hay gần chỉ là trên danh nghĩa mà thôi. Tên hay không, gần hay xa thật sự ở tại tấm lòng. Lu-ca viết rằng khi ĐCJC sinh ra tại thành Bết-lê-hem, nhà quán không có chỗ cho Ngài. Hình ảnh đó cũng là hình ảnh của những người không có chỗ nào cho Chúa trong tấm lòng, trong con tim, trong đời sống của họ.
Nghĩ lại câu chuyện Giáng Sinh, thiên sứ hiện ra đầu tiên cùng những người chăn chiên đang trông giữ bầy chiên ngoài đồng trong lúc đêm khuya. KT cũng không ghi lại tên của họ. Nhưng hằng năm khi câu chuyện GS được kể lại thì những người này được tôn trọng vì họ là những người đầu tiên được thiên sứ báo tin, và tin vào lời thiên sứ phán. Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-12) Tin rồi làm gì? Họ để đàn chiên ngoài đồng, bỏ làm overtime để đi vào làng Bết-lê-hem tìm con trẻ mới sinh. Họ hy sinh cả việc làm vì niềm tin, vì hy vọng mới vào tin lành thiên sứ nói cùng họ.
Các nhà thông thái từ phương đông cũng vô danh. Không phải họ không có tên tuổi. Trái lại đây là những người có thể nổi danh trong vòng dân họ. Nhưng khi đến với Chúa, họ chấp nhận là những người vô danh. Họ có thể buồn phiền, hờn giận, cắng đắng vì bỏ đường xa, công khó lặn lội ngày đêm theo ngôi sao để đến tìm con trẻ mới sinh. Nhưng lại không được nêu tên!
Lắm khi chúng ta làm công việc Chúa với hy vọng, với chủ ý là cho mọi người biết để khen thưởng, tán dương. Khi không ai biết, không ai khen thì buồn trách, hờn giận. Hãy nhớ bài học về sự vô danh của các bác sĩ, của những người chăn chiên. Niềm vui thật sự của các bác sĩ từ phương đông không phải khi được tuyên xưng tên tuổi, mà là khi được nhìn thấy ngôi sao dẫn đường đến chuồng chiên hay nhà ở nơi Jêsus đã hạ sinh: Kìa, ngôi sao mà họ đă thấy bên đông phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại. Mấy thầy thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội (9-10). Mừng vì cuối cùng đã tìm được Đấng Cứu Rỗi, chứ không phải vì nghe được tên mình tuyên xưng trên môi miệng người khác, hay tìm được trên sách vở con người ghi lại.
Được Chúa biết quan trọng hơn ngàn vạn lần được người biết. Có những hiểu lầm, những hàm oan từ người đời. Đau thật, buồn thật, thậm chí tủi nhục. Nhưng chúng ta tin rằng rồi một ngày sự thật sẽ được tỏ bày. Tên của các thông gia từ phương đông rồi sẽ được tuyên bố trong ngày cuối giữa tiếng kèn của thiên sứ, trên con đường lót bằng vàng và ngọc báu trước ngôi thánh của ĐCT.
Bài học thứ ba là các bác sĩ phương đông tin dù gặp khó khăn, trở ngại, thậm chí nguy hiểm.
TIN DÙ GẶP KHÓ KHĂN, TỐN KÉM (CÁC BÁC SĨ ĐẾN TỪ PHƯƠNG XA)
Bài học khác trong câu chuyện GS này là không phải lúc nào những người có kiến thức về tôn giáo, về KT cũng là những người thật sự tôn thờ Chúa. Nếu vậy các nhà thông giáo, người Pha-ri-si đã là những người đầu tiên đến Bết-lê-hem tôn thờ Chúa. Họ có đầy một bồ kiến thức. Khi Hê-rốt hội các thầy lễ cả và thông giáo để hỏi Đấng Christ sanh tại đâu, thì họ đã có câu trả lời: Tâu rằng: Tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đê; vì có lời của đấng tiên tri chép như vầy (Ma-thi-ơ 2:4). Không chỉ vậy họ còn trích dẫn thuộc lòng từ KT CU: Hỡi Bết-lê-hem, đất Giu-đa! Thật ngươi chẳng kém gì các thành lớn của xứ Giu-đa đâu, Vì từ ngươi sẽ ra một tướng, Là Đấng chăn dân Y-sơ-ra-ên, tức dân ta (2:5)
Dù có đầy một bồ kiến thức về Đấng Christ và CU nhưng lòng của họ hoàn toàn xa cách Chúa. Biết nhưng không có lòng thì có ích lợi gì? Biết nhưng không hề áp dụng, làm theo thì có đáng gì?
Đây cũng là hình ảnh của chúng ta và của cả nhân loại trước Tin Lành. Biết bao nhiêu người có cơ hội nghe TL, sống trong sự tự do tín ngưỡng, dễ dàng thờ phượng, không hề mất mát tốn kém gì về vật chất khi tin Chúa lại rất xa Chúa trong lòng. Trong các nước Tây phương và ngay cả tại HK, cơ hội đến với Chúa chỉ trong tầm tay với. Tuy vậy số đông ngày càng xa rời ĐCT, xa rời đạo Chúa, xem KT chỉ là một quyển sách xưa cũ không gì liên quan gì đến đời sống.
Các thầy tế lễ và thông giáo tượng trưng cho những người gần Chúa nhưng lòng lại rất xa. Các bác sĩ từ phương đông dù ở xa nhưng lòng dạ, tâm lòng rất gần ĐCT. Câu châm ngôn Càng gần nhà thờ, càng xa Chúa! có phần rất đúng! Thường thì điều gì quá quen thuộc sẽ trở nên nhàm chán và bị coi thường. Trẻ em lớn trên xứ này xem thường những điều có được so với trẻ em sinh sống tại các quốc gia nghèo khó. Rất nhiều điều chúng ta lấy làm vô cùng quí giá khi mới đến xứ này nay lại xem như điều tất nhiên phải có như sự tự do ăn năn, đi lại, thờ phượng, như đời sống vật chất đầy đủ, như phương tiện y tế.
Bao nhiêu trăm ngàn tín đồ tại các xứ đạo Chúa bị bắt bớ phải trả một giá rất đắt cho đức tin, vì vậy mỗi ngày họ đều suy nghĩ cẩn thận về giá đắt phải trải khi tin nhận Chúa, khi nhận lễ Báp-tem, khi sống làm theo lời dạy KT. Họ chấp nhận trả giá đắt để được nhóm lại thờ phượng, học KT. Nhiều người đầu sẽ trở nên cuối và nhiều người cuối sẽ trở nên đầu.
Bởi vì tấm lòng của các bác sĩ từ phương đông có chỗ cho Chúa nên họ không ngại đường xa, không ngại tốn kém mà tìm đến thờ lạy Jêsus. Không ai áp lực hay ép buộc họ. Họ làm việc này cách tự nguyện, vui lòng và hơn hết dù phải tốn kém thời gian, công sức và tài của. Sao chỉ hiện ra vào ban đêm. Nên khi đi theo ngôi sao sáng họ phải đi trong đêm thay vì ban ngày như các cuộc hành trình khác. Họ phải trải qua bao nhiêu ngày đêm từ phương đông đi đến Jerusalem, rồi Bết-lê-hem. Ban ngày nắng cháy thịt da, ban đêm gió sương rét lạnh cắt thấu xương thịt.
Họ có thể gởi người đi với của vật để mừng tặng Jêsus mới sinh. Tuy nhiên chính đích thân họ lặng lội đường xa đem theo báu vật để tìm cho được con trẻ mà thờ lạy Ngài. Họ không đến với Chúa tay không nhưng đem những của lễ quí báu, đắt giá để dâng hiến, thờ lạy. Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược. (Ma-thi-ơ 2:11)
Đức tin không thể vay mượn nhưng phải là của chính cá nhân mình. Tôi xin được kết thúc với lời của một bài thánh ca: “Ta hi sinh vì con hết,
Huyết tuôn tim này tan tành,
Đem con ra từ nơi chết,
Chuộc tội đặng con lại sanh.
Ta đã phó tánh mạng cho con rồi,
Phó chi cho Ta con ôi?”
